Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HOÀ

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DSST

Ngày: 08/4/2025

Về việc tranh chấp “Vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Xuân Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Điều và ông Nguyễn Đăng Đúng;

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni – Kiểm sát viên.

Vào ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 147/2024/DSST ngày 31/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-DS ngày 19/3/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Bị đơn: Vợ chồng ông Phan N, sinh năm 1962, bà Võ Thị L, sinh năm 1963; địa chỉ: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Ông N, bà L có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: Do chỗ quen biết (hàng xóm của nhau), nên tôi có cho ông Phan N, bà Võ Thị L vay số tiền 198.000.000đ, số tiền mượn cụ thể như sau:

  • + Ngày 10/12/2017, ông N mượn số tiền 11.000.000đ;
  • + Ngày 10/12/2017, ông N mượn số tiền 13.000.000đ;
  • + Ngày 07/7/2018, mượn 3.000.000đ; Ngày 19/8/2018, mượn 5.000.000đ; Ngày 25/8/2018, mượn 5.000.000đ;
  • + Ngày 06/9/2018, mượn 14.000.000đ;
  • + Ngày 24/9/2018, mượn 3.000.000đ;
  • + Ngày 07/10/2018, mượn 15.000.000đ;
  • + Ngày 09/02/2019, mượn 7.000.000đ;
  • + Ngày 04/3/2019, mượn 7.000.000đ;
  • + Ngày 15/3/2019, mượn 5.000.000đ;
  • + Ngày 23/3/2019, mượn 3.000.000đ;
  • + Ngày 24/3/2019, mượn 5.000.000đ;
  • + Ngày 05/10/2019, mượn 7.000.000đ;
  • + Ngày 13/12/2019, mượn 15.000.000đ;
  • + Ngày 30/01/2020 (Âm lịch), mượn 80.000.000đ.

Tổng cộng vợ chồng ông N, bà L mượn của tôi là 198.000.000đ (một trăm chín mươi tám triệu đồng), khi mượn tiền thì ông N có viết giấy mượn tiền, riêng các giấy mượn tiền ngày 07/7/2018, ngày 23/3/2019 và ngày 24/3/2019 là tôi tự viết. Vì là hàng xóm nên tôi tin tưởng cho vợ chồng ông N, bà L mượn tiền nhiều lần, tôi đã đến nhà vợ chồng ông N, bà L để yêu cầu trả tiền cho tôi nhưng vợ chồng ông N, bà L không trả.Tại đơn khởi kiện ngày 17/7/2024, tôi khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông N, bà L trả cho tôi số tiền gốc 198.000.000đ.

- Bị đơn vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn vợ chồng ông N, bà L trình bày: Ông N thừa nhận có vay tiền bà H nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể là bao nhiêu và vay mấy lần. Nay bà H yêu cầu vợ chồng tôi trả 198.000.000đ thì vợ chồng tôi đồng ý. Bà L trình bày việc vay mượn giữa ông N với bà H thì bà không biết, nhưng sau khi ông N bị bệnh, bà H có đến nhà đòi tiền mà ông N đã vay của bà H thì bà mới biết, nay bà H yêu cầu vợ chồng bà trả cho bà H 198.000.000đ thì bà đồng ý cùng với ông N trả cho bà H 198.000.000₫

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị HĐXX xem xét buộc bị đơn trả số nợ gốc 198.000.000đ.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng thủ tục tố tụng; Đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 463, 466 Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn vợ chồng ông N, bà L trả cho nguyên đơn bà H 198.000.000đ. Về án phí DSST: Miễn án phí cho bị đơn ông Phan N, bà Võ Thị L theo quy định tại khoản 7 Điều 11 pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn Trần Thị H khởi kiện vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L yêu cầu trả số tiền gốc 198.000.000đ, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp vay tài sản” theo quy định khoản 3 Điều 26 BLTTDS. Bị đơn vợ chồng ông N, bà L có hộ khẩu thường trú tại xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa có thẩm quyền giải quyết.

Bị đơn vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L trả số tiền gốc 198.000.000đ (một trăm chín mươi tám triệu đồng), để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà H cung cấp các giấy mượn tiền.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 04/3/2025 và đơn xin xét xử vắng mặt của bị đơn: bị đơn vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L thừa nhận nợ nguyên đơn số tiền gốc 198.000.000đ (một trăm chín mươi tám triệu đồng) như nguyên đơn khởi kiện, vợ chồng ông N bà L đồng ý trả cho nguyên đơn bà Hợp số tiền gốc 198.000.000đ.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa nguyên đơn bà H và bị đơn vợ chồng ông N, bà L trình bày thống nhất vợ chồng bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc 198.000.000₫ (một trăm chín mươi tám triệu đồng), đồng thời vợ chồng bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn vợ chồng ông N, bà L có đơn xin miễn tiền án phí: theo quy định tại khoản 7 Điều 11 pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, đối với người cao tuổi thì được miễn nộp tiền án phí, ông Phan N – sinh năm: 1962, bà Võ Thị L – sinh năm: 1963, đều là người trên 60 tuổi và theo luật người cao tuổi thì vợ chồng ông N, bà L là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiền án phí DSST.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn bà H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 11, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H. Buộc bị đơn vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L phải trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Hợp S tiền 198.000.000đ (một trăm chín mươi tám triệu đồng).

Ngoài ra, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn bà Trần Thị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L chậm thanh toán số tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn vợ chồng ông Phan N, bà Võ Thị L được miễn toàn bộ án phí DSST.

Hoàn trả cho bà Trần Thị H 4.950.000 đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003356 ngày 30/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TX.Đông Hòa;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DSST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN về vay tài sản

  • Số bản án: 11/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger