Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THỦY

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 11/2025/DSST

Ngày: 07-02-2025

V/v: “tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương A

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Thành.

2. Ông Lê Chánh Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham gia phiên tòa: ông Phạm Trương Nhựt Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 685/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Lê Ngọc T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, TP ..

Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1980. Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: KV T, phường P, quận Ô, TP ..

- Bị đơn: Bà Nguyễn Duy P, sinh năm 1989. Vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: A - KV T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Do là bạn bè với nhau nên vào ngày 10/03/2022 ông Lê Ngọc T có cho bà Nguyễn Duy P vay số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), thời hạn vay 30 ngày, hai bên có lập biên nhận nợ với nhau. Khi đến hạn trả nợ, phía ông T đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà P chỉ hứa trả nợ, phía bà P hứa hẹn nhiều lần nhưng đến nay vẫn không thực hiện và cố tình tránh né không trả số tiền vay cho ông T. Nay ông T khởi kiện yêu cầu bà P có trách nhiệm trả cho ông số tiền đã vay là 100.000.000 đồng, ông không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Nguyễn Duy P đã được Tòa án tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không rõ ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi. Bị đơn đã được Tòa án thực hiện các biện pháp tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hồ sơ giao cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời gian quy định. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền và xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: ông Lê Ngọc T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Duy P trả số tiền còn nợ nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn bà Nguyễn Duy P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà P là phù hợp.

[3] Về nội dung vụ án:

Ông Lê Ngọc T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Duy P trả số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng theo giấy biên nhận ngày 10/3/2022 thể hiện: bà Nguyễn Duy P thừa nhận có vay của ông Lê Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng, hẹn 30 ngày sau sẽ trả.

Quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn bà P vẫn vắng mặt không đến, cũng không cung cấp thêm chứng cứ gì khác nên xem như bà P đã thừa nhận số nợ.

Giấy biên nhận vay tiền giữa ông T và bà P được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, có lập thành văn bản nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên. Do bà P vi phạm nghĩa vụ đã giao kết nên ông T khởi kiện yêu cầu bà P trả số nợ trên là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.

Hội đồng xét xử thấy rằng, ngày 10/3/2022, ông T bà P đã lập biên nhận nợ, bà P thừa nhận có nợ ông T số tiền 100.000.000 đồng. từ đó đến nay bà P chưa trả số tiền nào cho ông T, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích trên thấy rằng cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Duy P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Nguyên đơn ông Lê Ngọc T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 2 Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T.
  2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Duy P có trách nhiệm trả cho ông Lê Ngọc T số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn, nếu bị đơn không trả số tiền trên thì bị đơn phải chịu lãi suất theo Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Duy P phải chịu số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn ông Lê Ngọc T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002993 ngày 04/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tiếp theo của ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TPCT;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TPCT;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục THADS Q. Bình Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Phương A

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DSST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 11/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thiện - Phương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger