TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/DS-ST Ngày: 24-6-2025 V/v: tranh chấp kiện đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thanh Nhàn và Ông Phạm Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà:
Ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án (tầng 2), trụ sở Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2025 về “tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: anh Dương Văn M, sinh năm 1986; nơi cư trú: xóm C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- * Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: khu D, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Dương Văn M trình bày:
Anh Dương Văn M và anh Nguyễn Văn T có quan hệ quen biết, làm ăn mua bán cá song giống từ năm 2023; trong quá trình làm ăn, anh T có nhận của anh M số tiền là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) tiền cọc bán cá song giống. Anh M chuyển tiền qua số tài khoản anh T làm hai lần, cụ thể như sau: ngày 21/4/2023 chuyển số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng); ngày 24/4/2023 chuyển số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Sau khi anh M chuyển đủ tiền cọc, anh T lại không chuyển cá song giống cho anh M như thoả thuận. Đến ngày 12/7/2023, sau nhiều lần anh M đòi số tiền cọc thì anh T có làm giấy vay tiền xác nhận anh T có nợ anh M số tiền 350.00.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng), hẹn đến ngày 05/8/2023 sẽ trả cho anh M toàn bộ số tiền trên, hai bên không thỏa thuận về lãi suất, đến ngày hẹn anh T vẫn chưa trả nợ cho anh M. Tại
2
đơn khởi kiện anh M có yêu cầu anh T trả cho anh M số tiền 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên sau ngày 05/8/2023 anh T đã trả cho anh M số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Quá trình điều tra và tại phiên toà anh M đề nghị anh T hoàn trả số tiền còn lại là 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng), anh không yêu cầu anh T phải trả tiền lãi.
* Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh thừa nhận anh có mối quan hệ làm ăn cung cấp cá song giống với anh M, trong quá trình làm ăn, anh T có nhận của anh M số tiền là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) tiền cọc mua cá song giống. Do giấy tờ bên Trung Quốc cấp chậm nên anh T có giao cá song giống cho anh M không đúng thời hạn, vì thế anh M không nhận cá song giống nữa. Do anh M không lấy cá nữa nên anh cũng bị thiệt hại chưa gửi lại anh M số tiền 350.000.000 đồng. Đến ngày 12/7/2023 anh viết giấy vay tiền xác nhận còn nợ anh M 350.000.000 đồng, hai bên thống nhất đến ngày 05/8/2023 anh sẽ trả toàn bộ số tiền trên cho anh M. Tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên anh chưa trả được tiền cho anh M theo thỏa thuận mà chỉ trả được hai tháng tiền lãi, mỗi tháng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), tổng hai tháng là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Đến nay anh vẫn chưa trả được số tiền nợ 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) cho anh M, anh đưa ra phương án trả nợ là từ tháng 6/2025 (vào ngày 30 hàng tháng), anh sẽ trả số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)/tháng đến khi trả hết số tiền trên, nếu vi phạm bất kỳ thời hạn trả nợ nào thì anh phải trả toàn bộ số tiền còn lại chưa trả cho anh M.
- Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp các chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm: Giấy vay tiền (01 bản chính, 01 bản phô tô); sổ phụ chi tiết kiệm báo nợ/báo có (01 bản chính, 01 bản phô tô); xác nhận thông tin về cư trú (01 bản sao); căn cước công dân (01 bản sao); Biên lai thu tiền tạm ứng án phí (01 bản chính).
- Bị đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ tại phiên toà: căn cước công dân (01 bản phô tô).
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử nghị án:
+ Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật;
+ Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đều được đảm bảo quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
- Quan điểm giải quyết vụ án: chấp nhận yêu cầu khởi hiện của nguyên đơn anh Dương Văn M.
Buộc anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả lại cho anh Dương Văn M số tiền 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng) .
Bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định; trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Các đương sự không thống nhất được với nhau về số nợ gốc (nguyên đơn yêu cầu hoàn trả lại số tiền 330.000.000 đồng; bị đơn khẳng định còn nợ lại số tiền gốc là 350.000.000 đồng và số tiền 20.000.000 đồng là tiền bị đơn trả lãi cho nguyên đơn) và không thống nhất được phương thức thanh toán do nguyên đơn không đồng ý với phương thức thanh toán của bị đơn đưa ra,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phần tranh tụng và tranh luận của các đương sự tại phiên Tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng Dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Tranh chấp giữa nguyên đơn anh Dương Văn M và bị đơn anh Nguyễn Văn T xuất phát từ việc thoả thuận đặt cọc mua cá song giống của hai bên. Sau khi nhận tiền cọc, anh T vi phạm thoả thuận nên đã nhận nợ tiền anh M tại “Giấy vay tiền” ngày 12/7/2023 nội dung anh T vay tiền của anh M, hẹn đến ngày 05/8/2023 trả tiền cho anh M nhưng chưa trả được tiền nợ, do vậy xác định là “ tranh chấp kiện đòi tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại phường H, thành phố M nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về xác định tư cách tố tụng và tham gia phiên tòa:
anh Dương Văn M là người làm đơn khởi kiện nên có tư cách tố tụng là nguyên đơn; anh Nguyễn Văn T là người bị kiện có tư cách tố tụng là bị đơn. Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn nên Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: anh Dương Văn M khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải trả số tiền còn nợ là 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa xác định anh M và anh T có quan hệ làm ăn mua cá song giống, anh T nhận tiền cọc của anh M qua số tài khoản của anh T, tổng số tiền anh M chuyển cho anh T là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên anh T vi phạm thoả thuận, sau nhiều lần anh
4
M đòi tiền, anh T viết giấy vay tiền ngày 12/7/2023 thể hiện còn nợ anh M số tiền là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn trả nợ ngày 05/8/2023, hai bên không thỏa thuận về lãi suất. Đến nay anh M khẳng định anh T đã trả cho anh số tiền gốc là 20.000.000 đồng, số tiền còn lại chưa trả là 330.000.000 đồng. Phía anh T cho rằng còn nợ lại anh M số tiền nợ gốc là 350.000.000đ và số tiền 20.000.000₫ anh trả là tiền lãi 2 tháng cho anh M.
Nhận thấy, tại giấy vay tiền (bút lục số 41) thể hiện hai bên chốt số tiền vay là 350.000.000 đồng và không có thỏa thuận về lãi suất; quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa hôm nay anh T không có căn cứ chứng minh số tiền 20.000.000 đồng là anh trả lãi cho anh M trong 02 tháng nên không có cơ sở xem xét, nếu sau này anh T có căn cứ thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định. Do đó, xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Dương Văn M về việc đề nghị Tòa án buộc bị đơn anh Nguyễn Văn T phải trả số tiền nợ gốc còn lại 330.000.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
[3] Về lãi suất chậm trả: nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi suất chậm trả từ khi vi phạm thỏa thuận đến ngày xét xử, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[4] Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280; khoản 2 Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 155, 164, 166, 357, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ: Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn M.
Buộc anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho anh Dương Văn M số tiền 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng).
5
Kể từ ngày anh Dương Văn M có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành, theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
2. Về án phí:
Buộc anh Nguyễn Văn T phải nộp 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại anh M số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002418 ngày 19/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái.
3. Về quyền kháng cáo:
nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/6/2025.
4. Về quyền kháng nghị:
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sựthời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Thị Thanh Phương |
Bản án số 11/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 11/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp kiện đòi tài sản
