Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS - ST

Ngày: 12/3/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hòa
  2. Ông Lưu Danh Thùy

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 75/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Ông Phan Ngọc Q - sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ E, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
  2. Bà Đỗ Thị Vân A - sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ E, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của ông Phan Ngọc Q: Bà Đỗ Thị Vân A - sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ E, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

Bị đơn:

Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1974; Địa chỉ: tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt khi tuyên án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

Luật sư Hoàng Minh H – Văn phòng L3, Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, tầng H Tòa nhà G, số B đường T, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn C - sinh năm 1938; Nơi đăng ký thường trú: tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Địa chỉ chỗ ở hiện nay: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị C1 - sinh năm 1945; Nơi đăng ký thường trú: tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Địa chỉ chỗ ở hiện nay: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị C1: Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1974; Địa chỉ: tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt khi tuyên án.

Người làm chứng:

  1. Ông Đào Văn L1; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt khi tuyên án.
  2. Bà Nguyễn Phượng X; Địa chỉ: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
  3. Bà Nông Thị Bích L2; Địa chỉ: Tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A là vợ chồng. Ngày 14/7/2024, bà Vân A xem trên mạng thấy bên môi giới nhà đất đăng bán ngôi nhà 02 tầng xây dựng trên thửa đất số 44; tờ bản đồ số 27; Diện tích: 83,4m2 có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, bà đã liên hệ với bên môi giới (ông L1) và gặp bà Nguyễn Thị L. Khi đi xem nhà đất chỉ có bà Vân A, bà L và ông L1.

Cùng ngày 14/7/2024, bà Vân A ký hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị L để nhận chuyển nhượng ngôi nhà và diện tích đất thuộc thửa đất số 44; Tờ bản đồ số: 27; Diện tích: 83,4m2, có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng với giá 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Sau khi lập hợp đồng đặt cọc, bà Vân A đã chuyển vào số tài khoản của bà Nguyễn Thị L số tiền đặt cọc là:100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

Khi về nhà, bà Vân A đưa hợp đồng đặt cọc cho ông Phan Ngọc Q xem, ông Q không nhất trí mua nhà đất của bà L, do vậy, ngay tối hôm đó bà Vân A đã nhắn tin cho bà L thông báo về việc không mua nhà đất và xin lại tiền đặt cọc nhưng bà L không nhất trí.

Theo bà Vân A, hợp đồng đặt cọc này chưa đúng về cả hình thức lẫn nội dung, cụ thể như sau:

- Hợp đồng thể hiện Bên đặt cọc là: ông Phan Ngọc Q, Bên nhận đặt cọc: là bà Nguyễn Thị L. Tuy nhiên, ông Q không biết và không được ký vào bản hợp đồng này. Chữ ký tại bản hợp đồng là chữ ký của bà Đỗ Thị Vân A, đồng thời, bà đã tự ý sử dụng tài sản chung là khoản tiền của hai vợ chồng cùng tạo lập, tích góp được trong thời kỳ hôn nhân để thực hiện giao dịch đặt cọc khi chưa được sự đồng ý của ông Q, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q.

- Mặt khác, bà Nguyễn Thị L (bên nhận đặt cọc) không phải chủ sở hữu đối với ngôi nhà và diện tích đất cần chuyển nhượng, nhà và đất đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị C1 – là bố mẹ của bà L. Theo quy định tại Điều 192, Điều 194 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 điều 167 Luật đất đai năm 2013 thì chỉ chủ sở tài sản mới có quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình.

- Tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc, bà L cũng không cung cấp được văn bản ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị C1 ủy quyền cho bà L nhận đặt cọc chuyển nhượng đất.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà L trả lại tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị L là con đẻ của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị C1. Do bà L được ông C và bà C1 ủy quyền rao bán nhà đất và nhận đặt cọc, nên bà L đã nhờ nhân viên môi giới bất động sản là ông Đào Văn L1 đăng tin bài. Ngày 14/7/2024, bên môi giới thông báo cho bà L có bà Đỗ Thị Vân A muốn mua nhà đất của bố mẹ bà. Bà L và bên môi giới nhà đất đã dẫn bà Vân A đến trực tiếp xem đất, khi xem bà Vân A cũng gọi điện thoại video cho ông Phan Ngọc Q là chồng của bà Vân A cho xem nhà và đất, nói chuyện về giá cả và ông Q đã nhất trí nên bà L và bà Vân A cùng nhau ký kết hợp đồng đặt cọc với số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng.

Hiện nay ngôi nhà 02 tầng và diện tích đất thuộc thửa đất số 44; Tờ bản đồ số 27; Diện tích: 83,4m2 có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng gia đình bà đã chuyển nhượng cho người khác.

Bà L đã có ý kiến là sẽ hỗ trợ bị đơn với nhiều phương án như: giảm giá chuyển nhượng, cho kéo dài thời hạn hợp đồng đặt cọc, trong trường hợp bán được bà L sẽ hỗ trợ một phần tiền đặt cọc cho Vân A sau khi bán được nhà, tuy nhiên bà Vân A và ông Q đã khởi kiện tại Tòa nên bà không hỗ trợ nữa.

Theo bà L, bà đã được bố mẹ bà là người sở hữu ngôi nhà 02 tầng và diện tích đất thuộc thuộc thửa đất số 44; Tờ bản đồ số 27; Diện tích: 83,4m2 có địa chỉ tại tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng ủy quyền đăng bán và nhận đặt cọc theo Giấy ủy quyền đề ngày 01/6/2022. Căn cứ khoản 1 Điều 4 và khoản 2 Điều 5 của Hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024, bà không nhất trí trả lại tiền cọc cho ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A.

Tại bản tự khai ngày 28/12/2024, ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị C1 trình bày: Ông bà là chủ nhà đất tại tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (thửa đất số 44, tờ bản đồ số 27). Do không có nhu cầu sử dụng nên ông bà quyết định chuyển nhượng. Vợ chồng ông bà tuổi đã già không thuận tiện đi lại và giao dịch nên đã ủy quyền cho con gái là Nguyễn Thị L được phép đăng tin rao bán và nhận cọc với người mua.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu bị đơn thanh toán 100 triệu và rút yêu cầu tính lãi. Bị đơn không nhất trí và giữ nguyên ý kiến.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày luận cứ: Nguyên đơn là người phá vỡ thỏa thuận trong hợp đồng, từ chối thực hiện hợp đồng mặc dù đã được bị đơn tạo mọi điều kiện để thực hiện hợp đồng. Lý do nguyên đơn đưa ra để không thực hiện hợp đồng là do vợ chồng không xoay được tiền, chồng không ưng là không phù hợp. Đề nghị HĐXX xem xét lời khai của ông L1 về việc chứng kiến bà Vân A gọi điện video để trao đổi với ông Q về việc mua nhà và đã được ông Q nhất trí nên mới thực hiện việc đặt cọc. Bà Vân A tham gia ký kết hợp đồng trong tình trạng hoàn toàn minh mẫn, tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc nên giao dịch phát sinh hiệu lực. Bà L nhận đặt cọc của bà Vân A do đã được bố mẹ ủy quyền nên việc nhận đặt cọc là hợp pháp. Đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  • Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều 117, 122, 126, 131, 328, 351, 385, 407 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
  2. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, bị đơn bà Nguyễn Thị L (cư trú tại tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

[2] Về nội dung

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024 được ký kết giữa Bên đặt cọc (bên A) là ông Phan Ngọc Q và Bên nhận đặt cọc (bên B) là bà Nguyễn Thị L, số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng, mục đích của đặt cọc được ghi nhận trong hợp đồng đặt cọc (Điều 3) là “bằng việc đặt cọc này bên A cam kết mua bất động sản của bên B, bên B nhận tiền đặt cọc của bên A và cam kết sẽ bán bất động sản thuộc sở hữu hợp pháp và không có bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến bất động sản mà bên B rao bán cho bên A tại địa chỉ: tổ dân phố A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Thửa đất số 44, Tờ bản đồ số 27, Số bìa CU 848555 với diện tích là 83,4m2, giá bán là 2.000.000.000 (Bằng chữ: 2 tỷ đồng Việt Nam”. Phần cuối của Hợp đồng đặt cọc có chữ ký của bà Đỗ Thị Vân A, bà Nguyễn Thị L, người làm chứng Đào Văn L1.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024:

Hợp đồng đặt cọc thể hiện bên đặt cọc là ông Phan Ngọc Q nhưng thực tế ông Q không phải là người tham gia giao kết hợp đồng, người ký tên trong hợp đồng đặt cọc là bà Đỗ Thị Vân A. Đồng thời, tại phiên tòa không có ai cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông Q nhất trí với việc đặt cọc. Ông Đào Văn L1 cho biết khi bà Vân A đến xem nhà, ông nhìn thấy bà Vân A gọi điện video cho chồng nhưng ông không được nghe thấy ông Q nói nhất trí đặt cọc cũng như nhận chuyển nhượng nhà đất.

Bên nhận đặt cọc ghi trong hợp đồng đặt cọc là bà Nguyễn Thị L nhưng bà L không phải chủ sử dụng đất hợp pháp, quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều khẳng định nhà đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông C, bà C1.

Quá trình giải quyết vụ án, bà L cung cấp được 01 giấy ủy quyền đề ngày 01/06/2022 với nội dung ông C, bà C1 ủy quyền cho bà L rao bán và nhận tiền đặt cọc của bên mua.

Khoản 1, 2 Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện”. Tuy nhiên, trong giấy ủy quyền không ghi thời hạn ủy quyền, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 140 Bộ luật dân sự năm 2015: “Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện”. Hội đồng xét xử xét thấy nội dung ông C bà C1 ủy quyền cho bà L chỉ ghi “rao bán và nhận đặt cọc”, không ghi đối với giao dịch dân sự cụ thể nào (như chuyển nhượng cho ai, giá trị bao nhiêu, đặt cọc bao nhiêu), do đó, thời hạn ủy quyền trong trường hợp này được xác định là 01 năm.

Tại thời điểm bà L ký hợp đồng đặt cọc là ngày 14/7/2024 đã quá 01 năm từ ngày ký giấy ủy quyền, do đó bà L không có quyền đại diện cho ông C bà C1 nhận đặt cọc.

- Về tài sản đặt cọc

Theo hợp đồng thể hiện tài sản đặt cọc là số tiền 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà Đỗ Thị Vân A trình bày đây là số tiền do chồng của bà làm ra, tuy nhiên, bà Vân A không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh đây là tài sản riêng của ông Q. Do đó, cần xác định số tiền này là tài sản chung vợ chồng của bà Đỗ Thị Vân A và ông Phan Ngọc Q. Theo quy định tại Điều 29, 33, 35 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014; Điều 210, 213, 218 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản chung vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, vợ chồng đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận. Giao dịch đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng nhà đất với giá 2 tỷ đồng là số tiền lớn nên cần được bàn bạc, thỏa thuận giữa hai vợ chồng mới phát sinh hiệu lực.

- Về mục đích của hợp đồng đặt cọc là để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng. Tại phiên tòa bà L khẳng định mặc dù bà Vân A đổi ý không muốn nhận chuyển nhượng nhưng bà L vẫn tạo điều kiện cho nguyên đơn để thực hiện được giao dịch chuyển nhượng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhà và đất đã được chuyển nhượng cho người khác, do đó, không thể tiếp tục thực hiện được hợp đồng đặt cọc.

Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ để xác định Hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024 không đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 117, Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2015 nên không phát sinh hiệu lực. Vì thế, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024 vô hiệu.

[2.2]. Xét lỗi của các bên dẫn đến giao dịch chuyển nhượng không thực hiện được

Khi tham gia ký kết hợp đồng đặt cọc, nguyên đơn bà Vân A không phải là chủ thể của hợp đồng đặt cọc nhưng lại ký hợp đồng và tự ý sử dụng tài sản chung vợ chồng để đặt cọc với bị đơn, bị đơn có lỗi là mặc dù biết bà Vân A không phải là chủ thể trong hợp đồng đặt cọc nhưng vẫn ký kết giao dịch, đồng thời, bà L cũng không phải là chủ sử dụng hợp pháp của nhà đất, Điều 3 của hợp đồng đặt cọc nêu bên B (bà L) nhận tiền đặt cọc của bên A và cam kết bất động sản thuộc sở hữu hợp pháp của bên B là không đúng.

Do đó, lỗi trong hợp đồng đặt cọc này là của cả hai bên đương sự. Căn cứ vào các phân tích nêu trên, thì bà Vân A và bà L mỗi bên có lỗi 50% trong giao dịch hợp đồng đặt cọc dẫn đến việc chuyển nhượng không thực hiện được.

[2.3]. Về việc nhận tiền đặt cọc, trả tiền đặt cọc, phạt cọc:

Bà L đã nhận khoản tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng của bà Vân A, nên phải có nghĩa vụ trả lại 100.000.000 đồng cho bà Vân A.

Theo tinh thần của khoản 1 Mục I của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về tranh chấp hợp đồng dân sự có đặt cọc thì trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện thì phải chịu phạt cọc, nếu cả hai bên cùng có lỗi hoặc trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì không phạt cọc.

Xét thấy cả 2 bên đương sự đều có 50% lỗi dẫn đến hợp đồng không thực hiện được nên không phạt cọc.

[2.4]. Về yêu cầu thanh toán lãi: Tại phiên tòa bà Vân A tự nguyện rút yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều 116; Điều 117; Điều 118; Điều 122; Điều 134; Điều 140; Điều 210, 213, 218; Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 29, 33, 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014,
  • Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 14/7/2024 giữa bên đặt cọc ông Phan Ngọc Q và bên nhận đặt cọc bà Nguyễn Thị L là vô hiệu. Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A số tiền đã nhận đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  2. Đình chỉ đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi của nguyên đơn.
  3. Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) án phí có giá ngạch đối với yêu cầu trả lại tiền đặt cọc của nguyên đơn được tòa án chấp nhận. Tổng số tiền án phí bà L phải chịu là 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn ông Phan Ngọc Q và bà Đỗ Thị Vân A được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001123 ngày 11/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

  1. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Các bên đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Thị Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DS - ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 11/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa Phan Ngọc Q, Đỗ Thị Vân A và Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger