|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/DS-ST Ngày: 03 - 6 - 2025 V/v “Tranh chấp đòi Quyền quản lý di sản thừa kế ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hán Hưởng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Phẩm |
| Bà Bùi Thị Hảo |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Đòi quyền quản lý di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa:
-
Nguyên đơn: Ông Phạm Trung C, sinh năm 1962
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C: Ông Đặng Văn T - Luật sư Công ty L2 - Đoàn luật sư thành phố H.
Địa chỉ: Phòng E, tầng P, tòa nhà T, số C, M, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt). -
Bị đơn: Chị Phạm Hồng L, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền:- Chị Lê Thị Ngân H, sinh năm 1997.
- Địa chỉ: Tổ F, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Chị Lỗ Thị Thu H1, sinh năm 1985
- Địa chỉ: Tổ F, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1994
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (hiện nay chị H2 đang ở nước ngoài vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Trung C, sinh năm 1962
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Ông Phạm Văn H3, sinh năm 1964
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Tất B, sinh năm 2002
Địa chỉ: Tổ F, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
Anh Lê Vũ G, sinh năm 1984 (chồng chị L)
Địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện 19/7/2024, tại bản tự khai, quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Trung C trình bày: Ông có vợ là Phạm Thị T1, sinh năm 1964; chết năm 1997, có hai người con là Phạm Khắc D, sinh năm 1992 và Phạm Hồng L, sinh năm 1987. Năm 2017, anh D kết hôn vợ là chị Nguyễn Thị Thanh H2.
Ngày 28/3/2018, anh D và chị H2 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CM 411273 đối với thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6m²; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ nguồn gốc thửa đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn H3 là cậu của anh D.
Ngày 02/7/2018, anh D và chị H2 được Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ công nhận thuận tình ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 81/2018/QĐST-HNGĐ, nhưng không giải quyết chia tài sản chung của anh chị là thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Ngày 27/6/2021, anh D chết không để lại di chúc. Sau khi anh D chết, chị Phạm Hồng L quản lý thửa đất này và giữ GCNQSDĐ số CM 411273 UBND huyện T cấp cho vợ chồng anh D, chị H2, nhưng theo quy định của pháp luật về thừa kế thì ông là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và duy nhất của anh D phải là người được quyền quản lý di sản của anh D để lại; ông yêu cầu chị L phải trả lại tài sản của anh D và chị H2 là thửa đất nêu trên để ông được trực tiếp quản lý; đồng thời, chị H2 là người đồng sở hữu tài sản cùng anh D cũng có quan điểm ủy quyền cho ông được quản lý tài sản này nhưng chị L không đồng ý trả lại mà còn có hành vi ngăn cản và gây khó khăn cho ông, đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền quản lý di sản của ông; ông đề nghị UBND xã Đ giải quyết tranh chấp nhưng không thỏa thuận được.
Nay ông khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận ông là người thừa kế duy nhất được quyền quản lý di sản của anh D để lại và buộc chị L trả lại quyền quản lý thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44; địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và tài sản trên đất của anh D, chị H2 tạo dựng cho ông được quản lý tài sản này.
Tại bản tự khai, quá trình hòa giải, bị đơn chị Phạm Hồng L trình bày: Mẹ chị là bà T1 chết ngày 07/9/1997, có hai người con là chị và anh D (là em trai của chị) như ông C đã trình bày là đúng. Sau khi mẹ chị chết thì ông C lập gia đình và ở riêng, nên bà ngoại chị mới cắt cho chị và anh D một phần thửa đất để làm nhà sau này thờ cúng mẹ chị và cậu chị là ông Phan Văn H4 (ông H4 là em trai mẹ chị không lập gia đình, không có con) nên đồng ý để cho ông H4 là người đứng tên quyền sử dụng đất tại địa chỉ: Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ cho chị và anh D sử dụng chung. Đầu năm 2017 chị và chồng là anh G và anh D thống nhất cùng nhau góp tiền xây dựng một căn nhà trên đất để anh D trực tiếp quản lý, sử dụng; sau đó anh D lấy vợ năm 2017 là chị Nguyễn Thị Thanh H2 và anh D, chị H2 cùng ở trên nhà đất này.
Năm 2021, anh D chết thì chị là người trực tiếp quản lý đất; tài sản gắn liền trên đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chị không xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ai thì bố chị là Phạm Trung C đòi quyền quản lý di sản là nhà, đất anh D để lại thì chị mới xem lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị mới biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại đứng tên chung của anh D và chị H2 đối với phần đất cậu Phạm Văn H3 cho hai chị em làm đã mất quyền lợi của chị.
Nay ông C khởi kiện đòi quyền quản lý di sản của anh D để lại và đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên chung vợ chồng anh D, chị H2 là không đúng làm mất đi quyền sử dụng đất của chị, trong khi chị cũng có quyền sử dụng đất và tài sản trên đất nên chị không đồng ý giao lại nhà, đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C.
Tại phiên tòa, chị L có quan điểm trình bày: Chị đồng ý trả lại quyền quản lý thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6 m²; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C quản lý nhưng ông C phải đồng ý ghi nhận nội dung chị yêu cầu là ông C phải mở cửa cho vợ chồng chị và người thân trong gia đình mẹ đẻ chị được quyền vào ngôi nhà những ngày mùng một, ngày rằm, ngày giỗ, ngày lễ tết hoặc có việc liên quan đến mẹ chị và em chị thắp hương, làm giỗ cho mẹ chị và em của chị.
Quan điểm của chị L đưa ra nhưng không được ông C đồng ý nên hai bên không tự thỏa thuận được với nhau để ghi nhận sự thỏa thuận mà phải giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông C theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Vũ G có quan điểm trình bày: Nhất trí quan điểm của chị Phạm Hồng L đối với nguồn gốc, quá trình quản lý thửa đất như chị L đã trình bày. Anh cho rằng, cả anh và chị L cùng có công sức đóng góp tiền cùng với anh D để xây dựng nên ngôi nhà trên đất nên ông C đề nghị thì anh không nhất trí trả lại quyền quản lý, sử dụng nhà, đất này theo đề nghị của ông C.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H3 trình bày: Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc là của bố mẹ ông, ông là người đại diện đứng tên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2018, sau khi mẹ ông đồng ý tách cho chị L và anh D một phần thửa đất, nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại đứng tên vợ chồng anh Nguyễn Khắc D1 và chị Nguyễn Thị Thu H5 là không đúng nhưng ông không biết lý do. Nay ông C yêu cầu chị L phải trả lại quyền sử dụng đất này thì ông không nhất trí và ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ xác định thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44; diện tích 177,6m²; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số CM 411273 ngày 28/3/2018 cho vợ chồng anh D1 và chị H5; trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 xây gạch, lợp tôn khung sắt chống nóng và phía sau vườn có 19 cây đào, 02 cây hồng xiêm và 01 cây đu đủ. Ông C và vợ chồng chị L, anh G cùng xác định do vợ chồng anh G chị L đang trồng trên đất.
- Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định anh D1 và chị H5 có khối tài sản chung là Quyền sử dụng thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6 m²; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSDĐ số CM 411273 ngày 28/3/2018 cho vợ chồng anh D1, chị H5. Ngày 27/6/2021, anh D1 chết không để lại di chúc, trong khi đó anh D1 có mẹ là bà T1 đã chết từ năm 1997; anh D1 đã ly hôn chị H5 từ năm 2018 và anh D1 không có con con đẻ, con nuôi và cũng không có bố, mẹ nuôi nào khác.
Trong khi đó, tài sản là thửa đất và tài sản gắn liền trên đất là tài sản chung của anh D1 và chị H5. Nên khi anh D1 chết thì phát sinh quyền thừa kế tài sản và hiện nay ông C là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và duy nhất được quyền quản quản lý di sản thừa kế, nhưng thực tế hiện nay di sản của anh D1 trong khối tài sản chung với chị H5 lại do chị L trực tiếp quản lý.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 618 quy định: Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây: Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế”. Trong khi ông C là người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh D1. Vì vậy, chị L là chị gái anh D1, thuộc hàng thừa kế thứ hai chỉ được tiếp tục quản lý di sản khi được sự đồng ý của ông C. Nhưng ông C không nhất trí để chị L quản lý di sản mà yêu cầu chị L phải giao lại quyền quản lý di sản. Xét thấy đề nghị của ông C là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc chị L phải trả lại quyền quản lý di sản của anh D1 là đất, tài sản của anh D1 trên đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này cho ông C được trực tiếp quản lý. Thực tế thửa đất đang là tài sản chung của anh D1 và chị H5. Trong khi chị H5 đang ở nước ngoài và phạm vi vụ án không chia tài sản chung nên cần tạm giao cả phần tài sản của chị H5 trong khối tài sản chung với anh D1 cho ông Chính trực T2 quản lý là phù hợp và thực tế cả anh G (chồng chị L) đang quản lý đất trồng cây nên buộc cả anh G phải giao đất và tài sản trên đất cho ông C và buộc chị L phải trả lại cho ông C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chị L đang quản lý thì mới đảm bảo quyền quản lý thửa đất của ông C.
Về án phí: Chị L, anh G phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Ông C tự nguyện chịu toàn bộ chị phí tố tụng.
(Nội dung bài phát biểu lưu trong hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp; thẩm quyền giải quyết và tính hợp pháp của việc ủy quyền của đương sự:
1.1. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn cho rằng bị đơn đang chiếm dụng di sản của người chết để lại nên khởi kiện đòi quyền quản lý di sản thừa kế của người chết để lại, quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất, do UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh D1 và chị H5 năm 2018, nên là tài sản chung hợp nhất của anh chị. Trong khi đó, năm 2018, anh D1, chị H5 ly hôn nhưng không yêu cầu giải quyết Vì vậy, đến nay vẫn là tài sản chung của anh chị, nên phải đưa chị H5 vào tham gia tố tụng là người có quyền lợi, liên quan trong vụ án. Tại công văn số 17994/QLXNC-P3 của Cục Q1 ngày 12/8/2024 cung cấp thông tin xuất nhập cảnh xác định chị H5 xuất cảnh nhập xuất cảnh 05 lần, lần cuối xuất cảnh ngày 23/02/2024, chưa có thông tin nhập cảnh. Trong khi đó, chị H5 xuất cảnh trước khi thụ lý vụ án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ là đúng quy định của pháp luật.
1.3. Xét tính hợp pháp của việc chị Nguyễn Thị Thanh H2 ủy quyền cho ông Phạm Trung C trong vụ án thấy rằng:
Ngày 02/02/2024, tại thời điểm chị H2 còn ở Việt Nam có ủy quyền cho ông C giải quyết tranh chấp đối với quyền quản lý thửa đất trên, trong khi phạm vi ông C khởi kiện chỉ là đòi lại quyền quản lý di sản của anh D1 để lại đối với người đang trực tiếp quản lý di sản; ông C không đề nghị chia thừa kế di sản của anh D1 trong khối tài sản chung đối với chị H2 nên quyền lợi của ông C với chị H2 không mâu thuẫn nhau. Vì vậy, cần chấp nhận việc chị H2 ủy quyền cho ông C trong việc đòi lại thửa đất chị L đang quản lý. Tòa án cũng đã giao văn bản tố tụng cho ông H6 là bố đẻ chị H2 cũng là đảm bảo quyền lợi cho chị H2.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trung C đề nghị chị Phạm Hồng L phải trả lại quyền quản lý di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6 m²; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, thấy rằng:
2.1. Về nguồn gốc tài sản:
Căn cứ hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất thể hiện, thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6 m², có nguồn gốc trước đây vợ chồng anh D1 chị H2 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn H3 số tiền 60.000.000 đồng, đến ngày 28/3/2018 thì UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh D1, chị H2. Ông H3 có quan điểm chỉ cho chị L và anh D1, nhưng không biết tại sao hồ sơ lại đứng tên vợ chồng anh D1 và chị H2 và ông không ký hồ sơ chuyển nhượng. Tuy nhiên, căn cứ hồ sơ chuyển nhượng xác định ông H3 chuyển nhượng cho vợ chồng anh D1, chị H2. Tòa án yêu cầu ông đề nghị giám định để chứng minh không phải chữ ký của ông H3 trong hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông H3 từ chối thực hiện, nên phải xác định ông H3 chuyển nhượng phần diện tích đất này cho vợ chồng anh D1, chị H2 là tài sản chung hợp nhất của anh D1 và chị H2 trong thời kỳ hôn nhân.
Tại quyết định số 81/2018/QÐST-HNG, ngày 02/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, nhưng anh D1, chị H2 không đề nghị giải quyết chia tài sản là quyền sử dụng thửa đất nêu trên. Như vậy, mặc dù anh D1 và chị H2 không còn là vợ chồng nhưng thửa đất đó vẫn là tài sản chung của anh chị tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân. Trong khi đó, anh D1 đã chết năm 2021 nhưng không để lại di chúc định đoạt phần tài sản của mình. Vì vậy, phần tài sản của anh D1 trong khối tài sản chung với chị H2 chưa chia trở thành di sản thừa kế của anh D1, nên phát sinh quyền thừa kế và quyền quản lý di sản thừa kế.
2.2. Xét quyền quản lý di sản thừa kế thấy rằng:
Căn cứ khoản 2 Điều 618 của Bộ luật dân sự quy định: “2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây: a) Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;”
Khoản 2 Điều 616 của Bộ luật dân sự quy định: 2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản”.
Căn cứ khoản 2 Điều 616 và khoản 2 Điều 618 của Bộ luật dân sự quy định nêu trên thì người quản lý di sản tiếp tục được quản lý cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản và phải được sự đồng ý của những người thừa kế. Trong khi đó, ông C là người người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh D1. Nên chị L quản lý phần di sản của anh D1 phải được sự đồng ý của ông C, nhưng ông C không đồng ý cho chị L1 quản lý thì cần phải chấp nhận đề nghị này của ông C để buộc chị L phải trả lại quyền quản lý di sản của anh D1 cho ông C là đúng quy định của pháp luật.
2.3. Về quyền quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Chị L thừa nhận chị đang quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 411273 đối với thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6m²; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/3/2018, tên chung vợ chồng anh Phạm Khắc D và chị Nguyễn Thị Thanh H2. Do buộc chị L phải giao lại quyền sử dụng đất cho ông C. Vì vậy, cần buộc chị L phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho ông C.
Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất thể hiện, anh G cùng chị L đang trồng cây trên đất. Vì vậy phải xác định anh G cũng đang cùng chị L trực tiếp quản lý đất này. Do đó, cần buộc cả anh G phải trả lại quyền quản lý thửa đất mới đảm bảo quyền quản lý di sản thừa kế theo đề nghị của ông C.
Do không chia thừa kế di sản của anh D nên chị H2 vẫn có quyền sử dụng tài sản chung đối với thửa đất và hiện nay chị H2 đang ở nước ngoài ủy quyền cho ông C. Vì vậy, cần giao cho ông C quản lý cả phần tài sản chung của chị H2 trong khối tài sản chung với anh D, sau này chị H2 về nước có quyền đề nghị chia tài sản chung với anh D và cũng không làm mất đi quyền đề nghị thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại của vợ chồng anh G, chị L. Sau này các bên đề nghị thì được giải quyết trong vụ án khác.
2.4. Tại phiên tòa, chị L có quan điểm nhất trí trả lại quyền quản lý thửa đất số 137-2, tòa bản đồ số 44, diện tích 177,6 m²; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ cho ông C, nhưng chị có điều kiện phải ghi rõ trong bản án là nghĩa vụ của ông C phải mở cửa ngôi nhà cho vợ chồng anh chị người thân trong gia đình mẹ đẻ đã chết của chị được quyền đến ngôi nhà vào ngày mùng một, ngày rằm hàng tháng, ngày giỗ, ngày lễ, ngày tết (ngày âm lích) và những ngày có liên quan đến mẹ và em của chị đã chết thì chị mới đồng ý tự nguyện giao quyền quản lý tài sản là nhà, đất cho ông C. Quan điểm của chị L tại phiên tòa nhưng không được ông C đồng ý. Vì vậy, không có cơ sở để ghi nhận sự thỏa thuận của ông C đối với chị L mà phải giải quyết theo quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ được nêu và phân tích ở trên thấy rằng: Có đủ cơ sở pháp lý để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C. Buộc vợ chồng chị L, anh G phải giao quyền quản lý thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6m² và các tài sản gắn liền trên đất gồm có: 01 ngôi nhà ống xây 01 tầng đổ mái, lợp p lô xi măng, xây tường 10cm. Sàn lát gạch men diện tích 121,1 m²; 02 trụ cột xây 40x40 cm; cao 2,5 mét; 02 cánh cổng sắt hộp dài 1,7 mét, cao 2 mét; 01 sân trước nhà láng xi măng diện tích 29,2 m²; 02 hàng rào sắt dài 6,26 mét và và 6,31 mét; 01 sân láng xi măng phía sau nhà, phía trên lợp p lô xi măng diện tích 10,5 m² cho ông Phạm Trung C quản được trực tiếp quản lý và buộc chị L, anh G phải di dời tài sản thuộc quyền sử dụng riêng của chị L, anh G trên đất gồm 19 cây đào, 02 cây hồng xiêm và 01 cây đu đủ trồng trên thửa đất để trả lại quyền quản lý toàn bộ thửa đất cho ông C.
[3]. Về án phí và chi phí tố tụng:
3.1. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của ông C được chấp nhận nên ông C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chị L và anh G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
3.2. Về chi phí tố tụng: Ông C có quan điểm tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền 8.700.000 đồng (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng). Xác nhận ông C đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 616 và khoản 2 Điều 618 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền quản lý di sản thừa kế của ông Phạm Trung C.
- Buộc vợ chồng chị Phạm Hồng L và anh Lê Vũ G phải giao cho ông Phạm Trung Chính Q quản lý thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6 m². Trên đất có tài sản sau: 01 ngôi nhà ống xây 01 tầng đổ mái, lợp p lô xi măng, xây tường 10cm; sàn nhà lát gạch men diện tích 121,1m2; 02 trụ cột xây 40x40 cm; cao 2,5 mét; 02 cánh cổng sắt hộp dài 1,7 mét, cao 2 mét; 01 sân trước nhà láng xi măng diện tích 29,2 m²; 02 hàng rào sắt dài 6,26 mét và và 6,31 mét; 01 sân láng xi măng phía sau nhà, phía trên lợp p lô xi măng diện tích 10,5 m²; tại Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Buộc chị Phạm Hồng L phải giao cho ông Phạm Trung Chính Q quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 411273, đối với thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6m², của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ, cấp ngày 28/3/2018; tại khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tên anh Phạm Khắc D và chị Nguyễn Thị Thanh H2.
- Buộc vợ chồng anh Vũ Lê G1 và chị Phạm Hồng L phải di dời toàn bộ 19 cây đào, 02 cây hồng xiêm và 01 cây đu đủ là tài sản của vợ chồng chị L, anh G1 trên thửa đất thửa đất số 137-2, tờ bản đồ số 44, diện tích 177,6 m², tại Khu V, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để trả lại quyền quản lý thửa đất cho ông Phạm Trung C.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.
- Về án phí, chi phí tố tụng:
- 5.1. Về án phí: Buộc vợ chồng chị Phạm Hồng L và anh Lê Vũ G cùng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- 5.2. Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Trung C tự nguyện nộp số tiền 8.700.000₫ (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng. Xác nhận ông C đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Đương sự ở nước ngoài được quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người được ủy quyền nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 11/2025/DS-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp đòi quyền quản lý di sản thừa kế
- Số bản án: 11/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi Quyền quản lý di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi quyền quản lý di sản thừa kế giữa ông Phạm Trung Chính và Phạm Hồng Ly
