Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS-PT

Ngày: 20 - 3 - 2025

V/v: “Yêu cầu tuyên bố di chúc

vô hiệu và chia thừa kế theo

pháp luật; Yêu cầu công nhận di

chúc hợp pháp và yêu cầu công

nhận quyền sử dụng đất; Hợp

đồng tặng cho quyền sử dụng

đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Trang.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Dịu - Ông Hàng Lâm Viên.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2025/TLPT-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần X, sinh năm 1950 (chết ngày 18/01/2023);

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

  1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1954; Vắng mặt.
  2. Ông Trần T, sinh năm 1975; Có mặt.
  3. Ông Trần P, sinh năm 1978; Có mặt.
  4. Ông Trần T1, sinh năm 1972; Vắng mặt.
  5. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1993; Vắng mặt.
  6. Bà Trần Thị Như M, sinh năm 1984; Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị H, ông Trần T, ông Trần P, ông Trần T1, ông Trần Văn H1: Bà Trần Thị Như M, sinh năm 1984 (Theo giấy ủy quyền ngày 14/02/2023);

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên nguyên đơn: Luật sư Trần Xuân T2 - Văn phòng L2 - Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

Địa chỉ: Phòng P, Tòa nhà V, bán đảo L, H, Hà Nội.

  1. Bà Trần Thị Như Á, sinh năm 1981 (chết năm 2008);

Người thừa kế thế vị của bà Trần Thị Như Á: Ông Đỗ Minh N, sinh năm 2003. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

  1. Bị đơn: Ông Trần P1, sinh năm 1966 (chết ngày 25/12/2024);

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:

  1. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969; Vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị M1, sinh năm 1989; Vắng mặt.
  3. Ông Trần Văn T3, sinh năm 1992; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị L, bà Trần Thị M1, ông Trần Văn T3 và bà Trần Thị H2: Ông Trần D, sinh năm 1954 (Theo giấy ủy quyền ngày 16/01/2025;14/02/2025);Có mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Ông Trần D, sinh năm 1954;Có mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Bà Trần Thị H3, sinh năm 1961;Có mặt

Địa chỉ: Thôn S, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Ông Trần Văn P2, chết năm 2004.

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P2:

  1. Bà Trần Thị Anh T4, sinh năm 1988; Vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị Kim P3, sinh năm 1990; Vắng mặt.
  3. Bà Trần Thị Kim H4, sinh năm 1992; Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Anh T4, bà Trần Thị Kim P3, bà Trần Thị Kim H4: Bà Mai Thị Kim C, sinh năm 1958;Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác:
  1. Ông Trần Văn N1, sinh năm 1985;

Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn N1: Bà Trần Thị M1, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn M, xã N. huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công Đ - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  1. Người kháng cáo: Bà Trần Thị Như M là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần X và trong quá trình tham gia tố tụng những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của nguyên đơn trình bày:

Cụ Tô Thị G (chết năm 2017) và cụ Trần Q (chết năm 1989) có 05 người con chung: Trần X (chết ngày 18/01/2023), Trần D, Trần Thị H3, Trần Văn P2 (chết năm 2004) và Trần Phúc. Ông X chết có vợ là Trần Thị H và 06 người con gồm Trần T, Trần P, Trần T1, Trần Thị Như M, Trần Văn H1, Trần Thị Như Á (sinh năm 1981- chết năm 2008, có 01 con là Đỗ Minh N). Ông Trần Văn P2 chết có vợ là bà Mai Thị Kim C và 03 người con là Trần Thị Anh T4, Trần Thị Kim H4 và Trần Thị Kim P3.

Năm 2004, Toà án nhân dân huyện Ninh Hải giải quyết tranh chấp đất đai giữa cụ Tô Thị G và ông Trần X, theo Quyết định công nhận hoà giải thành số: 26/QĐ-HGT ngày 07/6/2004 thì cụ Tô Thị G và ông Trần X thoả thuận ông X giao cho cụ Tô Thị G 300m² đất và 01 căn nhà trên đất có diện tích khoảng 60m² thuộc một phần thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4, tại thôn M, xã N, huyện N đã được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0767982 ngày 15/6/1996 cho ông Trần X. Hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất này do bà Trần Thị H (vợ ông X) đang giữ.

Vào ngày 08/7/2004, cụ Tô Thị G lập di chúc, có xác nhận của UBND xã N nội dung: cho ông Trần P1 toàn bộ diện tích 300m² đất cùng căn nhà trên đất. Ngày 10/9/2013, cụ Tô Thị G lập “Giấy cho đất thổ cư” có nội dung: cụ G cho chị Trần Thị M1 - anh Trần Văn N1 diện tích đất 48m² (4m x12m) là một phần của diện tích đất 300m² nói trên. Do cụ G không biết chữ, tuổi đã cao, không còn minh mẫn, người viết nội dung di chúc lại là ông Trần P1 (người được hưởng di sản), di chúc và giấy cho đất không có người làm chứng, hơn nữa thời điểm cụ G lập các giấy tờ trên cũng chưa được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSD đất đối với diện tích 300m² đất nên không có quyền sử dụng đất để lập di chúc và tặng cho đất. Theo bên nguyên đơn thì di chúc lập ngày 08/7/2004 và giấy cho đất thổ cư lập ngày 10/9/2013 là vô hiệu toàn bộ. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • Tuyên bố di chúc lập ngày 08/7/2004 của cụ Tô Thị G vô hiệu.
  • Tuyên bố giấy cho đất thổ cư lập ngày 10/9/2013 của cụ Tô Thị G vô hiệu.
  • Truất quyền thừa kế của ông P1 do ông P1 có hành vi lừa dối, giả mạo khi lập di chúc cho cụ G.
  • Chia thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng 300m² đất (theo kết quả đo đạc thực tế là 302m²) cho các đồng thừa kế, bên nguyên đơn có nguyện vọng nhận đất và hoàn lại giá trị các kỷ phần cho các đồng thừa kế khác.

Tại phiên toà sơ thẩm, bên nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Rút yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố “Giấy cho đất thổ cư” ngày 10/9/2013 của cụ Tô Thị G vô hiệu. Đồng ý để cho bà M1 – ông N1 được sử dụng diện tích đất 48m² mà cụ G đã cho.
  2. Rút yêu cầu đề nghị Toà án truất quyền thừa kế của ông Trần P1.
  3. Yêu cầu Tòa án tuyên bố Di chúc lập ngày 08/7/2004 của cụ Tô Thị G vô hiệu.
  4. Yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Tô Thị G chết để lại là phần diện tích đất 254m² thuộc thửa đất số 61 (đã trừ đi phần cụ G cho chị M1 - anh N1) là một phần thửa đất số 42 đã được UBND huyện N cấp GCNQSD đất cho ông Trần X. Yêu cầu chia thừa kế thành 05 phần cho 05 người con của cụ Tô Thị G. Bên nguyên đơn (vợ con, cháu ông X) yêu cầu được nhận chung phần của ông X bằng hiện vật là đất, cụ thể yêu cầu được nhận phần đất nằm đất giáp với phần đất của anh T (con ông X) thuộc hướng Bắc (cạnh BC theo trích lục bản đồ địa chính) thửa đất để nhập chung với phần đất của gia đình ông X đang nằm trong GCNQSD đất đã cấp cho ông X. Tài sản trên phần diện tích đất 254m² bên nguyên đơn không tranh chấp và đồng ý để cho ông P1 nhận và sở hữu.

- Đối với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản bên nguyên đơn không có ý kiến gì. Bên nguyên đơn đề nghị xác định giá tài sản tranh chấp là giá thị trường 6.549.000đồng/m² theo kết quả định giá lại của Công ty Cổ phần T7 Ban Mê.

Về chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Riêng chi phí giám định dấu vân tay tại Phân viên Khoa học Hình sự Bộ C1 tại TP . và chi phí thẩm định giá lại bên nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ.

Bị đơn ông Trần Phúc trình B:

Mẹ ông là cụ Tô Thị G đã được Toà án nhân dân huyện Ninh Hải công nhận quyền sử dụng 300m² đất (nay theo đo đạc lại là 302m², thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ 32-4 tại thôn M, xã N, huyện N) bằng Quyết định công nhận hoà giải thành của các đương sự số 26/QĐHGT ngày 07/6/2004 nên mới lập di chúc cho đất ông và cho vợ chồng con gái ông là Trần Thị M1 – Trần Văn N1 là đúng theo quy định. Mẹ ông tuy không biết chữ nhưng hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo cho đến khi chết nên không có việc ông làm giả di chúc hay lừa dối ai. Ông có yêu cầu phản tố đề nghị Toà án công nhận di chúc của cụ Tô Thị G lập ngày 08/7/2004 về việc cụ G cho ông diện tích 300m², trên đất có 01 căn nhà diện tích khoảng 60m² là có hiệu lực pháp luật và công nhận quyền sử dụng đất cho ông sau khi đã trừ đi phần diện tích cụ G đã cho bà M1, anh N1 là 48m². Ông đồng ý yêu cầu độc lập của bà M1 về việc yêu cầu công nhận hiệu lực của Giấy tặng cho đất ngày 10/9/2013.

Tại Đơn xin rút yêu cầu phản tố (BL 456) biên bản lấy lời khai đương sự ngày 16/9/2024 (BL 454), ông Trần P1 thay đổi ý kiến như sau: rút lại yêu cầu phản tố và đề nghị Toà án tuyên bố di chúc lập ngày 08/7/2004 của cụ Tô Thi G1 vô hiệu, đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất 254m² (sau khi trừ đi 48m² phần đất cụ G1 đã cho ông N1 bà M1). Ông yêu cầu được nhận

bằng hiện vật là đất và hoàn lại giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế khác vì hiện nay vợ chồng ông chỉ có nhà đất này, ngoài ra không có chỗ ở nào khác. Trường hợp các đồng thừa kế khác cho ông kỷ phần của họ thì ông đồng ý nhận. Đối với kỷ phần của ông X thì ông đồng ý hoàn lại bằng tiền.

Đối với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản ông không có ý kiến gì. Ông đồng ý giá thị trường của đất tranh chấp là 6.549.000đồng/m² theo kết quả định giá lại của Công ty Cổ phần T7 Ban Mê.

Về chi phí tố tụng: Ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L trình bày như sau:

Bà thống nhất ý kiến như bị đơn đã trình bày. Tại Giấy cho đất thổ cư bà có ký tên nhưng do đánh máy nhầm nên ghi họ tên bà là Trần Thị L1 nhưng họ tên thật đầy đủ của bà là Phạm Thị L mới đúng. Người ký tên Trần Thị L1 trong “Giấy cho đất thổ cư” ngày 10/9/2013 và bà là cùng một người.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn N1 - bà Trần Thị M1 trình bày:

Bà không đồng ý với cầu của nguyên đơn, đồng ý với ý kiến của bị đơn. Bà đã có yêu cầu độc lập: Yêu cầu Tòa án công nhận “Giấy cho đất thổ cư” ngày 10/9/2013 giữa bên cho đất là cụ Tô Thị G và bên được cho đất là ông Trần Văn N1 và bà Trần Thị M1 đối với diện tích đất (12m x 4m) thuộc lô đất 300m² đang tranh chấp là có hiệu lực pháp luật, đồng thời công nhận quyền sử dụng đất cho bà và ông N1. Hiện nay vì lý do công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản bà không có ý kiến gì.

Quá trình tố tụng ông Đỗ Minh N – người thừa kế thế vị của bà Trần Thị Như Á (chết năm 2008) trình bày:

Mẹ ông là con ruột ông Trần X, mẹ ông chết năm 2008, hiện nay ông sống cùng ba tại V, mẹ ông chỉ có một mình ông là con và không có con nuôi hay con riêng nào khác. Ông là người thừa kế thế vị của mẹ ông và thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Như M. Ông không yêu cầu được nhận chung với bà ngoại, dì và các cậu. Do ông ở xa đi lại khó khăn nên ông yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần D, bà Trần Thị H3 trình bày:

Các ông/bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, đồng ý với ý kiến của bị đơn, thống nhất với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị M1.

Mẹ các ông/bà là cụ Tô Thị G mặc dù không biết chữ nhưng hoàn toàn minh mẫn tỉnh táo cho đến khi chết. Việc cụ G lập di chúc cho đất ông Trần P1 và bà Trần Thị M1 các ông/bà có được nghe cụ G thông báo và đồng ý với việc cho đất trên vì hoàn cảnh gia đình ông P1 khó khăn, sống cùng với mẹ từ nhỏ đến khi cụ G chết. Trường hợp nếu hình thức của di chúc được lập không đúng quy định của pháp luật thì các ông/bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu Toà án chia thừa kế 302m² đất thì các ông/bà yêu cầu Toà án công nhận phần đất mà cụ G đã cho vợ chồng bà M1, ông N1 là 48m², phần còn lại 254m² thì đề nghị Toà án chia thừa kế theo pháp luật cho các người con của cụ G theo quy định của pháp luật. Ông/bà đồng ý chia thừa kế thành 05 phần bằng nhau cho 05 người con. Ông P2 chết trước cụ G thì các con ông P2 là bà T4, bà H4, bà P3 được nhận phần của ông P2. Phần mà các ông/bà được nhận thì yêu cầu được nhận bằng hiện vật là đất và tự nguyện tặng cho ông P1.

Đối với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ông/bà không có ý kiến gì.

Về chi phí tố tụng: Ông/bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là con ông Trần Văn P2 gồm bà T4, bà H4, bà P3 - bà Mai Thị Kim C trình bày:

Bà đồng ý với ý kiến của ông D, bà H3. Chồng bà là ông Trần Văn P2, chết năm 2004. Vợ chồng bà chỉ có 03 người con là Trần Thị Anh T4, Trần Thị Kim H4, Trần Thị Kim P3 ngoài ra không có con nuôi hay con riêng nào khác. Quá trình làm việc bà đã có ý kiến đồng ý công nhận hiệu lực “Giấy cho đất thổ cư” ngày 10/9/2013 và không đồng ý tuyên bố di chúc của mẹ chồng bà là cụ Tô Thị G lập ngày 08/7/2004 vô hiệu. Bà đại diện cho các con đồng ý tuyên bố di chúc của cụ G lập ngày 08/7/2004 là vô hiệu và đồng ý chia thừa kế theo pháp luật cho 05 người con của cụ G. Phần của các con bà được nhận thì các con bà đồng ý cho lại ông P1 toàn bộ vì ông P1 không có chỗ ở nào khác, ông P1 ở với mẹ chồng bà từ lúc nhỏ đến khi chết, hiện nay ông P1 cũng là người thờ cúng mẹ chồng bà.

Quá trình tố tụng Ủy ban nhân dân xã N có ý kiến:

Việc Ủy ban nhân dân xã N chứng thực di chúc ngày 08/7/2004 của cụ Tô Thị G là đúng theo quy định của pháp luật. Di chúc này đã được viết sẵn khi cụ G đem đến UBND xã khi tiến hành chứng thực cán bộ tư pháp đã kiểm tra lại nội dung và cho cụ G lăn tay, điểm chỉ vào di chúc. Tại phòng một cửa của UBND xã N lúc đó có ông Mai Văn N2 (cán bộ tư pháp), bà Trần Thị T5 (cán bộ thương binh xã hội) làm chứng. Việc di chúc ghi cụ G đã ký tên vào di chúc là do cán bộ tư pháp soạn sẵn mẫu chung không sửa lại nên không ảnh hưởng đến nội dung di chúc.

Ủy ban nhân dân xã N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến gì thêm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận quyết định:

Căn cứ: Các điều 26, 35, 39, 147, 161, 165, 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Các điều 655, 656, 657 và 659 Bộ luật dân sự 1995; Điều 31 và Điều 73 Luật đất đai năm 1993; Các điều 401, 402, 722, 724, 725, 726 Bộ luật dân sự 2005; Điều 129, 688 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố “Giấy cho đất thổ cư” ngày 10/9/2013 của cụ Tô Thị G là vô hiệu.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc truất quyền thừa kế của ông Trần P1.
  3. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về tuyên bố di chúc lập ngày 08/7/2004 của cụ Tô Thị G là có hiệu lực pháp luật và công nhận quyền sử dụng 300m² đất cho bị đơn.
  4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu tuyên bố di chúc lập ngày 08/7/2004 của cụ Tô Thị G là vô hiệu.
  5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản do cụ Tô Thị G chết để lại.
    1. Công nhận việc tặng cho kỷ phần thừa kế giữa ông Trần D, bà Trần Thị H3, chị Trần Thị Anh T4, chị Trần Thị Kim H4, chị Trần Thị Kim P3 và ông Trần P1.
    2. Ghi nhận việc các đương sự gồm ông Trần D, bà Trần Thị H3, chị Trần Thị Anh T4, chị Trần Thị Kim H4, chị Trần Thị Kim P3 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần X (bà Trần Thị H, chị Trần Thị Như M, anh Trần T, anh Trần P, anh Trần T1, anh Trần Văn H1 và cháu Đỗ Minh N)

đồng ý giao cho ông P1 được quyền sở hữu các tài sản và cây trồng trên diện tích 254m² đất.

  1. Chia cho ông Trần P1 được quyền quản lý, sử dụng diện tích 254m² đất nông nghiệp là một phần của thửa đất số 61, tờ bản đồ địa chính số 32-4 (chỉnh lý từ thửa 42, tờ bản đồ số 4) toạ lạc tại thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0767982 ngày 15/6/1996 cho ông Trần X tương ứng các điểm B, C, D, E (Theo trích lục bản đồ địa chính số 655/VP.ĐKĐĐCNNH ngày 25/9/2024 của Văn phòng Đ1 - chi nhánh N3). Ông P1 được quyền sở hữu các tài sản trên đất như: Căn nhà cấp 4 diện tích 57,8m² và các tài sản khác như 02 mái hiên gắn liền nền xi măng có tổng diện tích 31,2m², 02 giếng nước (đường kính 1,6m và 0,8m) và 01 cây me, 04 cây mãng cầu.

Ông P1 có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần X là bà Trần Thị H và các con là Trần Thị Như M, Trần T, Trần P, Trần T1, Trần Văn H1, cháu Đỗ Minh N (thế vị) nhận chung với số tiền là 332.689.200 đồng.

  1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M1 về việc công nhận hiệu lực của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là “Giấy cho đất thổ cư” ngày 10/9/2013 của cụ Tô Thị G và bà Trần Thị M1, ông Trần Văn N1.

Bà Trần Thị M1 - ông Trần Văn N1 được quyền quản lý, sử dụng 48m² đất nông nghiệp là một phần của thửa đất số 61, tờ bản đồ địa chính 32-4 (chỉnh lý từ thửa số 42, tờ bản đồ số 40 toạ lạc tại thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0767982 ngày 15/6/1996 cho ông Trần X tương ứng các điểm A, B, E, F (Theo trích lục bản đồ địa chính số 655/VP.ĐKĐĐCNNH ngày 25/9/2024 của Văn phòng Đ1 - chi nhánh N3). Trên đất có căn nhà đại đoàn kết của bà M1 – ông N1.

  1. Ông Trần P1 và bà Trần Thị M1 - ông Trần Văn N1 được đồng đứng tên quyền sử dụng đất đối với 302m² đất nông nghiệp (Ông P1 có quyền sử dụng 254m² đất, bà M1 - ông N1 được quyền sử dụng 48m² đất), thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ địa chính số 32-4 (được chỉnh lý từ thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4) là một phần của thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4, tại thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 07679822 ngày 15/6/1996 cho ông Trần X tương ứng các điểm A, B, C, D, E, F (Theo trích lục bản đồ địa chính số 655/VP.ĐKĐĐCNNH ngày 25/9/2024 của Văn phòng Đ1 - chi nhánh N3). Đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường liên thôn, phía Tây giáp đất đã được cấp GCNQSD đất đứng tên ông Trần X, phía Nam giáp đường đi nằm trong GCNQSD đất đứng tên ông Trần X, phía Bắc

giáp đất đã được cấp GCNQSD đất đứng tên ông Trần X. Xung quanh đất có rào lưới B40, trụ bê tông cao 1,2m (có thể di dời, giá trị sử dụng không còn).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông X là bà Trần Thị H có nghĩa vụ nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0767982, số vào sổ 13215 do UBND huyện N cấp ngày 15/6/1996 để các bên làm thủ tục đăng ký cấp mới hoặc điều chỉnh GCNQSD đất theo quy định. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, chỉnh lý biến động, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Chi phí tố tụng:

Chi phí giám định: Bà Phạm Thị L, chị Trần Thị H2, anh Trần Văn T3 và bà Trần Thị M1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bên nguyên đơn 2.880.000 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng).

Chi phí thẩm định, định giá: Bà Phạm Thị L, chị Trần Thị H2, anh Trần Văn T3 và bà Trần Thị M1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bên nguyên đơn 1.671.500 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi mốt ngàn năm trăm đồng).

  1. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

  1. Các ông bà Trần Thị Như M, Trần T, Trần P, Trần T1, Trần Văn H1 và Đỗ Minh N) phải liên đới chịu 14.258.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng

được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên 0007656 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.

Số tiền án phí dân sự sơ thẩm những người này còn phải liên đới (không chia phần) nộp 13.958.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm năm mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Bà Phạm Thị L, chị Trần Thị H2, anh Trần Văn T3 và bà Trần Thị M1 liên đới (không chia phần) nộp 30.611.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0007600 ngày 04/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.

Các đương sự còn phải nộp 30.311.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm mười một ngàn đồng).

  1. Bà Trần Thị M1 - ông Trần Văn N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H6 lại cho bà Trần Thị M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007686 ngày 14/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Trần Thị Như M phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003811 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải do bà Trần Thị Như M nộp. Bà M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

(Kèm theo trích lục bản đồ địa chính số 655/VP.ĐKĐĐCNNH ngày 25/9/2024 của Văn phòng Đ1 - chi nhánh N3).

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND tỉnh Ninh Thuận (1);

- TAND huyện Ninh Hải (1);

- Chi cục THADS huyện Ninh Hải (1);

- Phòng KTNV & THA (1);

- Lưu hồ sơ, án văn, HC-TP (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 11/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Trần X tranh chấpYêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với bị đơn Trần P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger