Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS-PT

Ngày: 05-6-2025

V/v: "Ly hôn, tranh chấp chia tài sản

khi ly hôn"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy

Ông Trần Bá Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Vân- Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:10/2025/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số:15/2025/HNGĐ-ST ngày 21/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm:1968, CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; có mặt.

Bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm:1964, CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định (vắng mặt, Giấy báo cáo về việc không có mặt theo giấy triệu tập).

Người đại diện theo ủy quyền phần tài sản của bị đơn: Bà Trần Thị Hưng Y- sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; có mặt (Hợp đồng ủy quyền Chứng thực ngày 07/5/2025).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng C2- Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2, tỉnh Bình Định (Ngân hàng C2); Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, Bình Định; Đại diện: Ông Nguyễn Tấn Đ - Giám đốc; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Ngân hàng N– Chi nhánh huyện V, tỉnh Bình Định (Ngân hàng A); Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định; Đại diện: Ông Bùi Sơn T1 – Giám đốc; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  3. Anh Phạm Văn V, sinh năm: 1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; Hiện ở: Số A C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  4. Chị Phạm Thị Diễu K, sinh năm: 1996, địa chỉ: Thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  5. Chị Phạm Thị Thúy O, sinh năm: 1999, địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  6. Anh Phạm Việt C, sinh năm: 2003, địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/9/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị T trình bày:

Bà và ông Phạm Văn B quen biết, tìm hiểu tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 02/11/1988 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Nghĩa Bình.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình và sinh được 04 người con chung. Từ năm 2014, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, ông B có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Vì thương các con nên bà đã cố gắng nhẫn nhịn, tha thứ, chịu đựng. Đến nay, ông B cũng không hề thay đổi, không còn quan tâm đến gia đình, vợ con, vẫn giữ mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, nên mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng nhiều, sống ly thân nhiều năm nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt, nên yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

  • 1.1. Về hôn nhân: Cho bà được ly hôn ông Phạm Văn B.
  • 1.2. Về con chung: Bà và ông B có 04 con chung, gồm: Phạm Văn V, sinh năm: 1992; Phạm Thị Diễu K, sinh năm: 1996; Phạm Thị Thúy O, sinh năm: 1999 và Phạm Việt C, sinh năm: 2003. Các con chung đều đã trưởng thành, phát triển bình thường, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • 1.3. Về tài sản chung: Hộ gia đình bà có tài sản chung gồm:

    - Quyền sử dụng đất: Thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; diện tích 201m²(đất ở 196m², đất trông cây hàng năm khác: 5m²) thời hạn sử dụng: đất ở; lâu dài; đất trồng cây hàng năm khác đến tháng 10/2065. Nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất: 196m²; Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất: 5m²; trị giá thửa đất: 350.000.000 đồng.

    - Tài sản gắn liền với thửa đất 1188 gồm:

    1. (1). Nhà cấp N3: Nhà 02 tầng (gác lửng), tường xây gạch chịu lực, sàn gác lửng bê tông chịu lực, nền lát gạch men, trần thạch cao diện tích 89m²; tổng diện tích sàn 117,35m² x 3.792.000 đồng = 444.991.200 đồng; trong nhà có lan can cầu thang sắt có trị giá: 650.000 đồng x 4m = 2.600.000 đồng; nhà có mái ngói trị giá: 493.000 đồng/m2 x 89m² = 43.877.000 đồng; nhà xây dựng năm 2003 sửa chữa và nâng cấp năm 2019, đánh giá giá trị còn lại 60%. Tổng giá trị còn lại các hạng mục là (444.991.200 đồng + 2.600.000 đồng + 43.877.000 đồng) x 60% = 294.880.920 đồng.
    2. (2). Nhà quán (tráp) có nền bê tông cấp N17, có diện tích: 2,8 x 11 = 30,8m², đánh giá giá trị còn lại 50%; Tính giá trị còn lại là 30,8m² x 780.000 đồng/m² x 50% = 12.012.000 đồng.
    3. (3). Nhà sau (bếp) có nền bê tông cấp N18, có diện tích: 8 x 5 = 40m², đánh giá giá trị còn lại 50%; Tính giá trị còn lại là 40m² x 390.000 đồng/m² x 50% = 7.800.000 đồng.
    4. (4). Cổng trước giá trị còn lại: 6m² x 950.000 đồng/m² x 50 % = 2.850.000 đồng.
    5. (5). T2 rào xây gạch có giá trị: (5m x 1,3m) x 487.000 đồng/m² = 3.165.500 đồng.

    Trị giá tài sản gắn liền với đất là: (1) + (2) + (3) + (4) + (5) = 320.708.420 đồng (làm tròn 321.000.000 đồng).

    Các thành viên hộ gia đình thống nhất thỏa thuận căn nhà nêu trên có nguồn gốc (xây dựng) từ công sức đóng góp của ông Phạm Văn B, bà Trương Thị T và con là Phạm Văn V.

    Thửa đất 1188 và tài sản gắn liền với thửa đất 1188, đã được nhà nước công nhận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV 912598 số vào số cấp GCN số: CS01062 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/07/2020 cho hộ ông Phạm Văn B, có tổng trị giá nhà đất là 671.000.000 đồng.

    - Rẫy bạch đàn: Cây trồng hơn 02 năm, mật độ 1,5m x 1,5m, diện tích khoảng 2,012ha, đất không có sổ nhưng được sử dụng lâu dài, không có tranh chấp, địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; Rẫy bạch đàn nêu trên được ông Phạm Văn B và Bà tự khai hoang nên thuộc quyền sử dụng của bà và ông B; Các thành viên trong hộ gia đình không có tranh chấp hay yêu cầu gì; Bà và ông B thống nhất, thỏa thuận rẫy bạch đàn nêu trên có trị giá 320.000.000 đồng, khấu trừ đi chi phí trồng và chăm sóc riêng cho ông B 50.000.000 đồng, còn lại đồng ý chia đôi giá trị rẫy, mỗi người nhận phần giá trị 135.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà mong muốn được nhận rẫy bạch đàn này và thối lại cho ông B 135.000.000 đồng.

1.4. Về khoản nợ chung

  • - Ngân hàng Chính sách xã hội:

    Bà và hộ gia đình có vay còn nợ Ngân hàng C2 số tiền 150.000.000 đồng của 03 khoản vay (Khoản vay thứ 01: Nuôi bò sinh sản, trị giá 100.000.000 đồng; Khoản vay thứ 02: Nuôi bò sinh sản, trị giá 30.000.000 đồng; Khoản vay thứ 03: Hỗ trợ làm nước sạch nhà vệ sinh, trị giá 20.000.000 đồng).

  • - Ngân hàng A:

    Bà và hộ gia đình có vay Ngân hàng A theo Hợp đồng tín dụng số 4313-LAV-202100621 ngày 02 tháng 06 năm 2021, vay không bảo đảm bằng tài sản theo nghị định Chính phủ, khách hàng giao cho Ngân hàng giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV 912598 số vào số cấp GCN số: CS01062 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày: 29/07/2020. Tiền vay được sử dụng cho mục đích của các thành viên trong hộ gia đình, số tiền cho vay: 150.000.000 đồng, B1 đưa cho con Phạm Văn V 50.000.000 đồng. Dư nợ đến thời điểm hiện tại là: 149.900.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay.

    Bà mong muốn Tòa án giải quyết cho nhận toàn bộ tài sản, trả hết các khoản nợ chung, chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.

Các lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn ông Phạm Văn B trình bày:

  • Về hôn nhân: Thống theo lời trình bày của bà T, đồng ý ly hôn theo yêu cầu bà T.
  • Về con chung: thống nhất vợ chồng có 04 con chung như bà T trình bày, hiện nay đều đã trưởng thành, phát triển bình thường, nên khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung gồm:

    - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 1188:

    Quyền sử dụng đất và ngôi nhà gắn liền với thửa đất 1188 có tổng trị giá 671.000.000 đồng, thừa nhận ngôi nhà nêu trên đất có nguồn gốc (xây dựng) từ công sức đóng góp của ông, bà Trương Thị T và con Phạm Văn V, ông mong muốn được sử dụng chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    - Rẫy bạch đàn: Thống nhất rẫy bạch đàn trị giá 320.000.000 đồng. Ông là người mua cây giống và chăm sóc có tổng chi phí là 50.000.000 đồng, nên trừ đi chi phí còn lại trị giá 270.000.000 đồng (320.000.000 đồng – 50.000.000 đồng), yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông tiếp tục sử dụng rẫy bạch đàn nêu trên, thối lại cho bà T 1/2 giá trị là 135.000.000 đồng.

  • Về khoản nợ:

    - Về khoản nợ tại Ngân hàng Chính sách xã hội:

    Hộ gia đình ông có vay Ngân hàng chính sách xã hội 03 khoản vay (Khoản vay thứ 01: Nuôi bò sinh sản, trị giá 100.000.000 đồng; Khoản vay thứ 02: Nuôi bò sinh sản, trị giá 30.000.000 đồng; Khoản vay thứ 03: Hỗ trợ làm nước sạch nhà vệ sinh, trị giá 20.000.000 đồng). Tổng cộng 150.000.000 đồng.

    Khoản vay trên bà T vay tiền và nhận tiền sử dụng vào mục đích riêng, ông không liên quan gì đến 03 khoản vay này nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.

    - Về khoản nợ tại Ngân H:

    Hộ gia đình ông (Phạm Văn B) có vay Ngân hàng A theo Hợp đồng tín dụng số 4313-LAV-202100621 ngày 02 tháng 06 năm 2021, vay không bảo đảm bằng tài sản theo nghị định Chính phủ, khách hàng giao cho Ngân hàng giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV 912598 số vào số cấp GCN số: CS01062 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày: 29/07/2020. Tiền vay được sử dụng cho mục đích của các thành viên trong hộ gia đình, số tiền cho vay: 150.000.000 đồng. Dư nợ đến thời điểm hiện tại là: 149.900.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định.

    Khoản vay trên ông là người trực tiếp đứng tên, nhận tiền sau đó đưa tiền cho bà T, còn bà T sử dụng vào mục đích gì ông không rõ. Yêu cầu bà T phải liệt kê chi tiết việc bà T sử dụng khoản vay này, nếu chi đúng thực tế thì ông sẽ chịu trách nhiệm trả chung, còn nếu không thì yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.

Theo các lời khai có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn V trình bày:

  • - Anh có tài sản chung với cha Phạm Văn B và mẹ Trương Thị T là ngôi nhà gắn liền với thửa đất 1188; Anh và cha, mẹ thống nhất, mỗi người nhận 1/3 giá trị ngôi nhà trị giá 107.000.000 đồng, khấu trừ 50.000.000 đồng trước đây bà T đưa cho anh từ khoản vay của Ngân hàng A, số tiền còn lại anh cho toàn bộ cho mẹ bà Trương Thị T.
  • Các tài sản khác và khoản nợ khác thì anh không liên quan nên không có ý kiến.

Theo các lời khai có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Diễu K trình bày:

Chị Phạm Thị Diễu K không sở hữu hoặc liên quan đến các tài sản chung, nợ chung của cha ông Phạm Văn B và mẹ bà Trương Thị T nên chị không có ý kiến, chỉ cung cấp thông tin nguồn gốc thửa đất 1188 là do ông bà nội để lại. Chị có biết việc khi xây nhà, anh Phạm Văn V cho cha mẹ là ông B và bà T mượn tiền nhưng cha mẹ và anh V đã tự thỏa thuận được nên chị không có ý kiến gì.

Theo các lời khai có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Thúy O, anh Phạm Việt C trình bày:

Chị Phạm Thị Thúy O, anh Phạm Việt C không sở hữu hoặc liên quan đến các tài sản chung, nợ chung của cha ông Phạm Văn B mẹ bà Trương Thị T nên chị O và anh C không có ý kiến, chỉ cung cấp thông tin nguồn gốc thửa đất 1188 là do ông bà nội để lại.

Theo các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C2 trình bày:

Bà Trương Thị T và ông Phạm Văn B có vay Ngân hàng Chính sách xã hội 03 khoản vay (Khoản vay thứ 01: Nuôi bò sinh sản, trị giá 100.000.000 đồng; Khoản vay thứ 02: Nuôi bò sinh sản, trị giá 30.000.000 đồng; Khoản vay thứ 03: Hỗ trợ làm nước sạch nhà vệ sinh, trị giá 20.000.000 đồng). Các khoản nợ trên đều trong hạn nhưng vợ chồng ông B đang làm thủ tục ly hôn và chia tài sản dẫn đến ngân hàng có nguy cơ thất thoát vốn nên Ngân hàng Chính sách muốn thu hồi nợ trước hạn, yêu cầu Tòa án giải quyết bà Trương Thị T và ông Phạm Văn B có trách nhiệm trả 150.000.000 đồng tiền vay gốc và lãi phát sinh đến ngày tất toán khoản vay.

Theo các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng A trình bày:

Ngân hàng A xác nhận hộ ông Phạm Văn B có giao kết Hợp đồng tín dụng số 4313-LAV-202100621 ngày 02 tháng 06 năm 2021, khách hàng vay không bảo đảm bằng tài sản theo nghị định Chính phủ, khách hàng giao cho Ngân hàng giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV 912598 số vào số cấp GCN số: CS01062 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày: 29/07/2020. Tiền vay được sử dụng cho mục đích của các thành viên trong hộ gia đình, số tiền cho vay: 150.000.000 đồng. Dư nợ đến thời điểm hiện tại là: 149.900.000 đồng, khoản vay quá hạn và đã chuyển sang nợ xấu.

Nếu vợ chồng ông B, bà T ly hôn thì phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh thực tế cho ngân hàng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay cho ngân hàng xong thì Ngân hàng sẽ hoàn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T, ông B.

Nếu các tài sản chung nêu trên được hộ gia đình ông B, bà T thống nhất chia giao cho ông B hoặc bà T thuộc sở hữu và sử dụng thì người nhận sở hữu tài sản phải có nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng và nhận lại giấy tờ sở hữu.

Bản án dân sự sơ thẩm số:15/2025/NHGĐ-ST ngày 21/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 157, 165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 27, 37, 55, 59 của Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Trương Thị T và ông Phạm Văn B.
  2. Về con chung: Các con chung đã trưởng thành, đương sự không có yêu cầu nên không xét.
  3. Về tài sản chung: Phân chia tài sản chung của bà Trương Thị T và ông Phạm Văn B, cụ thể như sau:
    1. Giao cho bà Trương Thị T được trọn quyền sử dụng đất thửa đất số 1188 và trọn quyền sở hữu tài sản gắn liền với thửa đất số 1188 (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CV 912598, số vào số cấp GCN: CS01062, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho hộ ông Phạm Văn B ngày 29/7/2020), do ông Phạm Văn B có nghĩa vụ giao lại, gồm:
      • Thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định. Diện tích 201m² (196m² đất ở, 5m² đất vườn), có giá trị 350.000.000 đồng.
      • Tài sản gắn liền với thửa đất số 1188, gồm:
        • Nhà cấp N3: Nhà 02 tầng (gác lửng), tường xây gạch chịu lực, sàn gác lửng bê tông chịu lực, nền lát gạch men, trần thạch cao diện tích 89m²; tổng diện tích sàn 117,35 m² x 3.792.000 đồng = 444.991.200 đồng; trong nhà có lan can cầu thang sắt có trị giá: 650.000 đồng x 4m = 2.600.000 đồng; nhà có mái ngói trị giá: 493.000 đồng/m2 x 89m² = 43.877.000 đồng; nhà xây dựng năm 2003 sửa chữa và nâng cấp năm 2019, đánh giá giá trị còn lại 60%. Tổng giá trị còn lại các hạng mục là (444.991.200 đồng + 2.600.000 đồng + 43.877.000 đồng) x 60% = 294.880.920 đồng;
        • Nhà quán (tráp) có nền bê tông cấp N17, có diện tích: 2,8 x 11 = 30,8m², đánh giá giá trị còn lại 50%; giá trị còn lại là 30,8m² x 780.000 đồng/m² x 50% = 12.012.000 đồng;
        • Nhà sau (bếp) có nền bê tông cấp N18, có diện tích: 8 x 5 = 40m², đánh giá giá trị còn lại 50%; trị giá còn lại là 40m2 x 390.000 đồng/m2 x 50% = 7.800.000 đồng;
        • Cổng trước giá trị còn lại: 6m² x 950.000 đồng/m² x 50 % = 2.850.000 đồng;
        • Tường rào xây gạch có giá trị: (5mx1,3m) x 487.000 đồng/m² = 3.165.500 đồng;

        Tổng trị giá tài sản gắn liền gắn liền với đất là: 294.880.920 đồng + 12.012.000 đồng + 7.800.000 đồng + 2.850.000 đồng + 3.165.500 đồng = 320.708.420 đồng (Làm tròn 321.000.000 đồng).

    2. Giao cho bà Trương Thị T được trọn quyền sử dụng, định đoạt: 01 rẫy bạch đàn: cây trồng hơn 02 năm, mật độ 1,5m x 1,5m, diện tích khoảng 2,012ha, đất chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được sử dụng lâu dài, không có tranh chấp tại thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định do ông Phạm Văn B có nghĩa vụ giao lại. Bà T và ông B tự nguyện thống nhất, thỏa thuận có trị giá 320.000.000 đồng.
    3. Buộc bà Trương Thị T có nghĩa vụ giao lại số tiền 342.033.333 đồng (Ba trăm bốn mươi hai triệu không trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) cho ông Phạm Văn B.
  4. Về khoản nợ chung:
    1. Buộc bà Trương Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C2 - Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2, tỉnh Bình Định số tiền nợ gốc 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và lãi phát sinh cho đến ngày tất toán khoản vay của các món vay ngày 25/6/2020, 21/9/2021, 21/01/2022.
    2. Buộc bà Trương Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện V, tỉnh Bình Định số tiền nợ gốc 149.900.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng) và lãi suất phát sinh thực tế theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 4313-LAV-202100621 ngày 02/6/2021 cho đến khi bà T thanh toán xong khoản nợ gốc này.

      Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    3. Trường hợp khi bà Trương Thị T hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N - Chi nhánh huyện V, tỉnh Bình Định phải có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị T bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CV 912598, số vào số cấp GCN: CS01062, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho hộ ông Phạm Văn B ngày 29/7/2020.
  5. Án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:

      - Bà Trương Thị T phải nộp: 33.856.667 đồng(Ba mươi ba triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) sung ngân sách nhà nước; Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.800.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005003 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, bà T còn phải nộp 26.056.667 đồng (Hai mươi sáu triệu không trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

      - Ông Phạm Văn B thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

      - Hoàn trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện V, tỉnh Bình Định số tiền tạm ứng án phí 3.747.500 đồng (Ba triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0005017 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

    2. Áp phí dân sự phúc thẩm:

      Ông Phạm Văn B thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

  6. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thạnh;
  • - TAND huyện Vĩnh Thạnh;
  • - UBND xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Thạnh
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

15

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thanh Tuấn

Lê Văn Duy

Nguyễn Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn chia tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger