Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 11/2025/DS-PT

Ngày 04/03/2025

“Về việc tranh chấp

hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh.

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Trọng Cẩn và Bà Trần Thị Huê

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 11/2025/QĐXX-PT ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tôn Nữ Mỹ N, sinh năm 1993 và ông Đỗ C, sinh năm 1984; địa chỉ: Số B đường L, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Số B đường L, phường X, quận T, thành phố H); đều có mặt.

- Bị đơn: Bà Hồ Thị Kim N1, sinh năm 1990; địa chỉ: Số C kiệt A đường N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Số C kiệt A đường N, phường P, quận T, thành phố H); có mặt.

- Người kháng cáo: Bà Hồ Thị Kim N1, sinh năm 1990; địa chỉ: Số C kiệt A đường N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Số C kiệt A đường N, phường P, quận T, thành phố H); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây vợ chồng bà là Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ C đã nhiều lần cho bà Hồ Thị Kim N1 vay tiền, sau nhiều lần đề nghị bà N1 trả tiền thì đến ngày 29/5/2023 hai bên mới lập giấy mượn tiền, qua đó bà N1 xác nhận có vay mượn của bà N, ông C số tiền là 1.282.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi hai triệu đồng), quá trình vay mượn tiền thì bà N1 không trả nợ theo như yêu cầu.

Ngày 01/6/2023 bà đã thông báo bằng văn bản yêu cầu bà N1 trong vòng 30 ngày phải thanh toán số tiền nợ trên nhưng bà N1 vẫn không trả; do đó, vợ chồng bà đã khởi kiện bà N1 ra Tòa án để yêu cầu trả nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và triệu tập các bên đến làm việc vào ngày 20/6/2024 nhưng tại buổi làm việc này bà N1 vắng mặt và đến ngày 01/7/2024 thì bà N1 có chuyển khoản qua ngân hàng để trả cho bà số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Bà Tôn Nữ Mỹ N xác định khoản vay này là do vợ chồng bà giao dịch với cá nhân bà Hồ Thị Kim N1, do đó số tiền bà N1 còn nợ của vợ chồng bà là 1.281.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu đồng). Do bà N1 không có thiện chí trả nợ nên bà đề nghị Tòa án buộc bà Hồ Thị Kim N1 phải trả cho bà và ông Đỗ Cu S tiền nợ còn lại là 1.281.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.

Đồng nguyên đơn là ông Đỗ C quá trình giải quyết vụ án và tại bản tự khai ngày 20/6/2024 thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà Tôn Nữ Mỹ N.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn là bà Hồ Thị Kim N1 đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và tiến hành hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Phiên toà sơ thẩm ngày 12/8/2024, bà N1 vắng mặt và có đơn đề nghị không tham gia phiên tòa; Toà án đã quyết định hoãn phiên toà, ấn định lại thời gian xét xử vào ngày 29/8/2024; đã tống đạt Quyết định hoãn phiên toà và Giấy triệu tập phiên toà lần thứ hai cho bà N1 nhưng bà N1 vắng mặt và có đơn đề nghị không tham gia phiên tòa vì lý do bận làm ăn xa và đề nghị Tòa án bố trí lại thời gian mở phiên tòa để bà có điều kiện tham gia trình bày quan điểm, nguyện vọng.

Ngày 19/8/2024, bị đơn là bà Hồ Thị Kim N1 có văn bản trình bày ý kiến với nội dung như sau:

Bà và bà Tôn Nữ Mỹ N quen biết nhau từ tháng 6/2022, bà và bà N phát sinh việc tham gia chơi hụi do bà N làm chủ hụi. Số lần chơi hụi gồm 05 lần bắt đầu từ ngày 10/6/2022 đến ngày 22/11/2022; số tiền bà nhận của bà N theo các lần như sau:

Ngày 10/6/2022 số tiền 466.500.000 đồng; ngày 27/9/2022 số tiền 791.019.000 đồng; ngày 01/7/2022 số tiền 787.600.000 đồng; ngày 25/7/2022 số tiền 437.400.000 đồng; ngày 22/11/2022 số tiền 391.930.000 đồng. Tổng số tiền mà bà nhận của bà N thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng là 2.874.430.000 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

Số tiền bà chuyển trả cho bà N thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng từ ngày 10/6/2022 đến 22/11/2022 là 2.302.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm lẻ hai triệu đồng chẵn), từ tháng 12/2022 đến tháng 5/2023 bà đã chuyển trả cho bà N 300.000.000 đồng.

Từ tháng 6/2023 đến tháng 8/2024 bà chuyển trả 160.000.000 đồng. Tổng số tiền bà đã chuyển trả cho bà N là 2.762.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ bảy trăm sáu mươi hai triệu đồng chẵn). Như vậy, hiện nay số tiền bà còn thiếu chưa trả cho bà N là 112.000.000 đồng (Một trăm mười hai triệu đồng chẵn). Việc bà có thực hiện ký giấy nhận nợ ngày 29/5/2023 với số tiền 1.281.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu đồng) của vợ chồng ông Đỗ C và bà Tôn Nữ Mỹ N thì bà xác nhận chữ viết và chữ ký trên giấy nhận nợ là chữ viết của bà. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, vợ chồng ông C và bà N ép bà viết và ký vào giấy nhận nợ trên nhưng khoản tiền này là không có thật và tại thời điểm ký kết giấy nhận tiền thì tinh thần của bà đang hoảng loạn, không đủ minh mẫn, tỉnh táo. Bên cạnh đó, vào ngày 10/4/2023 giữa bà và vợ chồng ông C, bà N có ký kết một hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng nhà, đất của bà tại địa chỉ F đường N, phường P, thành phố H. Số tiền đặt cọc của bà N là 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng), thời hạn đặt cọc 06 tháng từ ngày 10/4/2023 đến ngày 10/10/2023 số tiền này tương ứng với số tiền theo giấy nhận nợ ngày 29/5/2023. Tuy nhiên, đến nay mặc dù đã quá hạn để thực hiện việc chuyển nhượng nhưng vợ chồng bà N vẫn không tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc nói trên đồng nghĩa với việc vợ chồng bà N mất số tiền đặt cọc là 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng).

Do đó, bà không còn nợ số tiền theo giấy nhận nợ ngày 29/5/2023 đã ký với vợ chồng bà N, ông C. Bà đề nghị Tòa án xác định số tiền mà bà còn nợ chưa trả cho vợ chồng ông C và bà N là 112.000.000 đồng (Một trăm mười hai triệu đồng chẵn). Bà không công nhận số tiền còn nợ 1.281.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu đồng chẵn). Yêu cầu vợ chồng ông C và bà N cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh vào ngày 29/5/2023 có thực hiện chuyển tiền cho bà mượn số tiền nêu trên.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 57/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các Điều 278, 280, 351, 357, 463, 466, 468 và Điều 469 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ Cu .
  2. Buộc bà Hồ Thị Kim N1 phải chịu trách nhiệm trả cho bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ Cu S tiền còn nợ theo giấy mượn tiền ngày 29/5/2023 là 1.281.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu đồng).
  3. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền 1.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Do không đồng ý với đối với bản án sơ thẩm, ngày 28 tháng 09 năm 2024 (theo dấu công văn đến ngày 30/9/2024), bị đơn Hồ Thị Kim N1 có đơn kháng cáo theo nội dung cụ thể sau: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 29/8/2024; Xác định lại số tiền mà bà Hồ Thị Kim N1 còn thiếu của ông Đỗ C và bà Tôn Nữ Mỹ N. Yêu cầu ông Đỗ C và bà Tôn Nữ Mỹ N cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh vào ngày 29/5/2023 có thực hiện chuyển tiền cho bà N1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo;

Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến:

- Về kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự không vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục.

- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn - bà Hồ Thị Kim N1 để sửa một phần bản án sơ thẩm, do bị đơn đã cung cấp tài liệu mới tại phiên tòa gồm các bản sao kê tại ngân hàng có căn cứ bị đơn đã trả nợ số tiền cho nguyên đơn từ ngày 20/7/2023 đến ngày 30/01/2024 số tiền là 36.590.000 đồng và được nguyên đơn chấp nhận; buộc bị đơn phải trả số tiền còn lại cho nguyên đơn là 1.244.410.000 đồng.

- Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật; do sửa án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thủ tục tố tụng:

Tại Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ và xét xử vắng mặt đương sự đảm bảo quy định theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Bị đơn: bà Hồ Thị Kim N1 kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng trình tự thủ tục nên Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết theo quy định pháp luật.

[1.2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay thể hiện, nguyên đơn bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ Cu khởi K yêu cầu bà Hồ Thị Kim N1 phải trả cho ông, bà số tiền nợ còn lại là 1.281.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu đồng), không yêu cầu tính lãi theo giấy mượn tiền lập ngày 29/5/2023.

Khoản nợ này được bà Hồ Thị Kim N1 thừa nhận tại Giấy mượn tiền là chữ viết và chữ ký trên giấy nhận nợ ngày 29/5/2023 là của bà với số tiền 1.281.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu đồng) của vợ chồng ông Đỗ C và bà Tôn Nữ Mỹ N. Như vậy, việc bà Hồ Thị Kim N1 nợ tiền bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ C và việc bà N1 viết giấy nhận nợ ngày 29/5/2023 là hoàn toàn có cơ sở.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

Xét kháng cáo của Bị đơn bà Hồ Thị Kim N1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 29/8/2024; xác định lại số tiền mà bà Hồ Thị Kim N1 còn thiếu của ông Đỗ C và bà Tôn Nữ Mỹ N. Yêu cầu ông Đỗ C và bà Tôn Nữ Mỹ N cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh vào ngày 29/5/2023 có thực hiện chuyển tiền cho bà N1, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Nguyên đơn bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ Cu cung C1 “Giấy mượn tiền” ngày 29/5/2023 thể hiện nội dung bà Hồ Thị Kim N1 có quan hệ chơi hụi với nhau và vay mượn nhiều lần, sau đó hai bên đã xác nhận nợ bằng Giấy mượn tiền của bà N1 với số tiền 1.282.000.000 đồng, có đầy đủ chữ ký của các bên. Theo trình bày của nguyên đơn thì đây là khoản tiền bà N1 vay nhiều lần và sau nhiều lần bà N, ông C đề nghị bà N1 trả tiền thì đến ngày 29/5/2023 hai bên mới lập giấy mượn tiền. Bị đơn - bà Kim N1 thừa nhận giấy mượn nợ do nguyên đơn cung cấp là hoàn toàn đúng chữ ký, chữ viết của mình.

Tuy nhiên, ngày 19/8/2024 tại văn bản trình bày ý kiến của bị đơn và tại phiên tòa, bị đơn phản bác cho rằng khoản vay trên thực chất phát sinh từ việc tham gia chơi hụi nhiều lần trong năm 2022 với tổng số tiền nhận chuyển khoản từ bà N1 là 2.874.430.000 đồng. Bà đã nhiều lần chuyển khoản qua Ngân hàng để trả cho bà N tổng số tiền 2.762.000.000 đồng và số tiền bà còn nợ chỉ là 112.000.000 đồng. Bà N1 thừa nhận chữ viết và chữ ký tại giấy mượn tiền ngày 29/5/2023 là do bà tự viết và tự ký nhưng bà viết và ký vào giấy mượn tiền trong trạng thái hoảng loạn, không đủ minh mân, tỉnh táo do bị ông C, bà N ép buộc.

Xét thấy lời khai của nguyên đơn phù hợp với giấy mượn tiền đề ngày 29/5/2023 với nội dung bà Hồ Thị Kim N1 thừa nhận có nợ của bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ Cu S tiền 1.282.000.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở.

Việc bà N1 cho rằng bà đã trả nợ cho vợ chồng bà N, ông C nhiều lần qua tài khoản Ngân hàng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bà đã cố tình nhiều lần không đến làm việc và không cung cấp được tài liệu gì để chứng minh cho yêu cầu của mình.

Tại cấp sơ thẩm nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã chuyển trả qua tài khoản đã được nguyên đơn chấp nhận là: 1.000.000 đồng, rút một phần yêu cầu và buộc bị đơn phải trả số nợ cho nguyên đơn số tiền 1.281.000.000 đồng,

Tại phiên tòa phúc thẩm bà N1 đã cung cấp tài liệu là các bản sao kê giao dịch trả nợ cho vợ chồng bà N qua số tài khoản 7575758888 đứng tên Tôn Nữ Mỹ N, thấy rằng: Kể từ sau thời điểm xác nhận bằng Giấy mượn tiền ngày 29/5/2023 thì bà N1 có chuyển trả cho bà N tổng cộng 11 lần, gồm:

  • + Ngày 20/7/2023: 5.000.000 đồng.
  • + Ngày 18/9/2023: 2.000.000 đồng.
  • + Ngày 27/8/2023: 8.880.000 đồng.
  • + Ngày 30/9/2023: 1.140.000 đồng.
  • + Ngày 20/10/2023: 2.000.000 đồng.
  • + Ngày 27/10/2023: 2.000.000 đồng.
  • + Ngày 29/10/2023: 3.570.000 đồng.
  • + Ngày 19/12/2023: 2.000.000 đồng.
  • + Ngày 31/12/2023: 4.000.000 đồng.
  • + Ngày 20/01/2024: 3.000.000 đồng.
  • + Ngày 30/01/2024: 3.000.000 đồng.

Tổng cộng: 36.590.000 đồng (Ba mươi sáu triệu năm trăm chín mươi ngàn). Số tiền này các bên đương sự thừa nhận nên cần chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Như vậy, số tiền bà N1 còn nợ vợ chồng bà N, ông C là: 1.281.000.000 đồng - 36.590.000 đồng = 1.244.410.000 đồng (Một tỷ hai trăm bốn mươi bốn triệu bốn trăm mười ngàn đồng chẵn).

Tại phiên tòa bà N1 cho rằng vợ chồng bà N nhiều lần mua trái cây của bà và nợ với số tiền hơn hai trăm triệu nhưng bà không có tài liệu gì để chứng minh. Đồng thời bà cho rằng vào ngày 10/4/2023 giữa bà và vợ chồng ông C, bà N có ký kết hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng nhà, đất của bà tại địa chỉ số F đường N, phường P, thành phố H với số tiền đặt cọc là 1.300.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc 06 tháng từ ngày 10/4/2023 đến ngày 10/10/2023, số tiền này tương ứng với số tiền theo giấy mượn tiền ngày 29/5/2023. Do quá trình thực hiện hợp đồng thì bà N, ông C vi phạm hợp đồng nên phải mất số tiền cọc nêu trên và bà không còn nợ bà N, ông C theo như giấy mượn tiền ngày 29/5/2023, bị đơn yêu cầu cấn trừ toàn bộ vào số nợ; nhưng yêu cầu của bà N1 không được vợ chồng bà N chấp nhận.

Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm bị đơn - Hồ Thị Kim N1 không xuất trình tài liệu chứng cứ, chứng minh cho ý kiến trình bày của mình là đúng nên cấp sơ thẩm xử là có căn cứ.

Xét thấy, những yêu cầu của bị đơn không có tài liệu gì chứng minh, không được nguyên đơn chấp nhận và không có căn cứ xem xét; nếu sau này có đủ căn cứ để chứng minh, bị đơn có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các tài liệu gồm các bản sao kê tài khỏan tại ngân hàng do bị đơn cung cấp có căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo đối một phần số tiền đã chuyển trả cho nguyên đơn là 36.590.000 đồng được nguyên đơn chấp nhận.

Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về án phí:

[3.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bị đơn bà Hồ Thị Kim N1 phải chịu toàn bộ số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: [36.000.000 đồng + (1.244.410.000 đồng - 800.000.000 đồng) x 3%] = 49.332.000 đồng; (Bốn mươi chín triệu ba trăm ba mươi hai ngàn đồng chẵn).

[3.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 278; Điều 280; Điều 351, Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn - bà Hồ Thị Kim N1; sửa một phần bản án sơ thẩm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tôn Nữ Mỹ N, và ông Đỗ C:

Buộc bà Hồ Thị Kim N1 phải trả cho bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ Cu S tiền nợ còn lại là: 1.244.410.000 đồng (Một tỷ hai trăm bốn mươi bốn triệu bốn trăm mười ngàn đồng chẵn).

  1. Đình chỉ xét xử đối với phần nguyên đơn đã rút yêu cầu buộc bị đơn phải trả số tiền 1.000.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự:

[4.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bị đơn bà Hồ Thị Kim N1 phải chịu số tiền, là: 49.332.000 đồng; (Bốn mươi chín triệu ba trăm ba mươi hai ngàn đồng chẵn).

[4.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên không phải chịu. Bà Hồ Thị Kim N1 được trả lại số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004891 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận hóa, thành phố H).

[4.3]. Trả lại cho bà Tôn Nữ Mỹ N và ông Đỗ Cu S tiền tạm ứng án phí đã nộp 25.230.000 đồng (Hai mươi lăm triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004097 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên, (nay là Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận hóa, thành phố H).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND CC tại Đà Nẵng;
  • - TAND quận Thuận hóa, TP. Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS quận Thuận hóa, thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tòa DS, HCTP; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 11/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger