Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/KDTM-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Ngọc và ông Nguyễn Xuân Thí

- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Hoàng Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa sơ thẩm công khai để xét xử vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 19/2023/TLST-KDTM ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2024/QĐXXST-DS ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (H3); địa chỉ: B B N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T - Tổng Giám đốc. Người được ủy quyền lại: Bà Hồ Thị Thanh T1; địa chỉ: C T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt bà T1.

- Bị đơn: Ông Trần Minh L; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình và bà Hồ Thị Thanh H; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; ông L và bà H vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề tháng 10/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn ngân hàng H3 trình bày:

- Ngân hàng TMCP P - Chi nhánh Q đã cho ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H vay tiền theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 19904/22MB/HĐTD ngày 12/07/2022 với hạn mức tín dụng: 400.000.000 đồng. Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 12/07/2022 đến ngày 12/07/2023). Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh hàng tạp hóa, đồ gia dụng. Khoản vay được giải ngân theo các đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ cụ thể như sau:

  1. Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19904/22MB/HĐTD/KUNN01 ngày 14/07/2022, số tiền nhận nợ 300.000.000 đồng (thời hạn vay 12 tháng, từ 15/07/2022 đến 14/07/2023). Phương thức trả nợ: Gốc trả khi đến hạn; Lãi trả hàng tháng. Lãi suất vay trong hạn: Lãi suất 9,4%/năm cố định trong 06 tháng kể từ ngày giải ngân, sau thời hạn này lãi suất theo qui định của ngân hàng H3 trong từng thời kỳ. Dư nợ của khoản vay đến hết ngày 30/9/2024 là: 378.034.967 đồng (trong đó: nợ gốc: 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 6.536.615 đồng, nợ lãi quá hạn: 70.614.247 đồng, lãi chậm trả lãi: 884.105 đồng)
  2. Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19904/22MB/HĐTD/KUNN02 ngày 15/07/2022, số tiền nhận nợ 100.000.000 đồng (thời hạn vay 12 tháng, từ 16/07/2022 đến 15/07/2023). Phương thức trả nợ: Gốc trả khi đến hạn; Lãi trả hàng tháng. Lãi suất vay: Lãi suất 9,4%/năm cố định trong 06 tháng kể từ ngày giải ngân, sau thời hạn này lãi suất theo qui định của ngân hàng H3 trong từng thời kỳ. Dư nợ của khoản vay đến hết ngày 30/9/2024 là: 125.983.433 đồng (trong đó: nợ gốc: 100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 2.295.616 đồng, nợ lãi quá hạn: 23.379.041 đồng, lãi chậm trả lãi: 308.776 đồng)

Tổng số tiền ông L và bà H còn phải trả theo Hợp đồng tín dụng số 19904/22MB/HĐTD ngày 12/07/2022 tính đến hết ngày 30/9/2024 là: 504.018.400 đồng (trong đó: nợ gốc: 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 8.832.231 đồng, nợ lãi quá hạn: 93.993.288 đồng, lãi chậm trả lãi: 1.192.881 đồng)

- Ngoài ra, ông Trần Minh L còn 01 khoản nợ thẻ tín dụng (Số thẻ 970437******0426): Ngày 15/07/2022, Ông Trần Minh L có yêu cầu mở thẻ tín dụng tại H3 với hạn mức thẻ tín dụng là: 40.000.000 đồng. Dư nợ thẻ tín dụng đến hết ngày 30/9/2024 là: 63.790.609 đồng

Tính đến hết ngày 30/9/2024, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H còn nợ Ngân hàng TMCP P tổng tiền: 567.089.009 đồng.

- Tài sản bảo đảm của khoản vay: Thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình theo GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE742301, số vào sổ cấp GCN CS08819 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Q cấp ngày 27/06/2022 đứng tên ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H. Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19903/22MB/HĐBĐ ngày 12/07/2022 được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ A đường P, phường Đ, tp tỉnh Quảng Bình và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn như đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ và thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc, yêu cầu trả nợ nhưng ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình, hiện khoản vay đã chuyển nợ quá hạn.

Nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ còn thiếu (gồm nợ gốc, nợ lãi) tính đến hết ngày 30/9/2024 là: 567.089.009 đồng.
  2. Buộc, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, các Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ kèm theo hợp đồng và lãi, phí thẻ tín dụng từ ngày 01/10/2024 đến ngày ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H thanh toán dứt điểm nợ vay.
  3. Trường hợp, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý, phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nếu số tiền phát mãi các tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H tại H3 thì ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ tại H3.

* Đối với bị đơn ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H hiện đang cư trú tại nước ngoài: Do phía nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ ở nước ngoài của ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H cho Toà án. Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Đ và Ủy ban nhân dân xã Đ thuộc huyện B, tỉnh Quảng Bình thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng của Toà án theo quy định. Theo công văn số 2837/CV-XNCngày 27/11/2023 của Phòng Q1 Công an tỉnh Q1 đã xác định: ông Trần Minh L đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 09/3/2023 qua sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam; bà Hồ Thị Thanh H đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 02/8/2023 qua sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Vì vậy, Tòa án không thể thực hiện thủ tục Ủy thác tư pháp theo quy định. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã thực hiện đăng tin thông báo về việc giải quyết vụ án trên kênh H4 VOV5 và đã phát 3 lần trong 3 ngày liên tiếp từ ngày 16-19/4/2024. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tại cả 02 phiên họp đều vắng mặt bị đơn, nên án thuộc trường hợp không thể tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm: Về tố tụng: người tiến hành tố tụng và nguyên đơn trong vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đảm bảo đúng quy định, đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, chi phí tố tụng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, nghe ý kiến của đại diện nguyên đơn, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP P (H3) về việc yêu cầu ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động tín dụng ngân hàng giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với ngân hàng và đều có mục đích lợi nhuận nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng trong vụ án kinh doanh thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại công văn số 2837/CV-XNC ngày 27/11/2023 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Q1 đã xác định: ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H đã xuất cảnh qua sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định, nhưng phía bị đơn đã xuất cảnh ra nước ngoài và không có địa chỉ cụ thể nên việc tống đạt không có kết quả. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ và Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình, đồng thời đã thông báo cho ông L, bà H biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án trên Hệ thống phát thanh đối ngoại quốc gia - H4 (VOV5) trong 03 số liên tiếp (ngày 16-19/4/2024) nhưng vẫn không nhận được thông tin từ ông L, bà H.

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 20/9/2024 nhưng do phía bị đơn vắng mặt không có lý do nên đã hoãn phiên tòa. Tại phiên toà ngày hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần 2 không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngày 12/7/2022, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H đã ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 19904/22MB/HĐTD với Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H để vay vốn. Hạn mức tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng là: 400.000.000 đồng. Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh hàng tạp hoá, đồ gia dụng. Thời hạn cấp hạn mức 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng hạn mức đến ngày 12/7/2023. Thời hạn trả nợ, lãi suất, phí được quy định cụ thể trong từng khế ước nhận nợ (KUNN) theo quy định của ngân hàng theo từng thời kỳ.

Theo đó, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H đã nhận nợ 02 lần với tổng số tiền 400.000.000 đồng theo các khế ước nhận nợ như sau:

  • Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19904/22MB/HĐTD/KUNN01 ngày 14/07/2022, số tiền nhận nợ 300.000.000 đồng (thời hạn vay 12 tháng, từ 15/07/2022 đến 14/07/2023). Phương thức trả nợ: Gốc trả khi đến hạn; Lãi trả hàng tháng. Lãi suất vay trong hạn: Lãi suất 9,4%/năm cố định trong 06 tháng kể từ ngày giải ngân, sau thời hạn này lãi suất theo qui định của ngân hàng H3 trong từng thời kỳ.
  • Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19904/22MB/HĐTD/KUNN02 ngày 15/07/2022, số tiền nhận nợ 100.000.000 đồng (thời hạn vay 12 tháng, từ 16/07/2022 đến 15/07/2023). Phương thức trả nợ: Gốc trả khi đến hạn; Lãi trả hàng tháng. Lãi suất vay: Lãi suất 9,4%/năm cố định trong 06 tháng kể từ ngày giải ngân, sau thời hạn này lãi suất theo qui định của ngân hàng H3 trong từng thời kỳ.

Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông L và bà H chưa trả nợ gốc cho ngân hàng, số tiền ông L và bà H còn phải trả cho ngân hàng H3 tính đến hết ngày 30/9/2024 là: 504.018.400 đồng (trong đó: nợ gốc: 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 8.832.231 đồng, nợ lãi quá hạn: 93.993.288 đồng, lãi chậm trả lãi: 1.192.881 đồng)

Ngoài ra, ngày 15/07/2022, Ông Trần Minh L có yêu cầu mở thẻ tín dụng (Số thẻ 970437******0426) tại H3 với hạn mức thẻ tín dụng là: 40.000.000 đồng. Tính đến hết ngày 30/9/2024, số tiền nợ thẻ ông L còn phải trả là 63.790.609 đồng.

Tính đến hết ngày 30/9/2024, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H còn nợ Ngân hàng TMCP P tổng tiền: 567.089.009 đồng. Việc ông L và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại các hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.

[2.2] Để đảm bảo cho các khoản nợ trên, ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H đã thế chấp tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 742301, số vào sổ cấp GCN CS08819 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Q cấp ngày 27/06/2022 mang tên ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19903/22MB/HĐBĐ ngày 12/07/2022 ký giữa ông Trần Minh L, bà Hồ Thị Thanh H và ngân hàng H3 được công chứng tại Văn phòng C và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B ngày 12/7/2022.

[3] Như vậy, việc các bên ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thẻ tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của các hợp đồng đều tuân thủ đúng các quy định của Ngân hàng và quy định của pháp luật.

Số tiền nợ lãi bao gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi được Ngân hàng tính theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H phải trả nợ tổng số tiền là: 567.089.009 đồng, đồng thời đề nghị xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ để thu hồi nợ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình; bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 26.712.000 đồng

[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí đăng tin trên hệ thống kênh phát thanh của Ban đối ngoại H4 VOV5: Ngân hàng TMCP P đã nộp 10.000.000 đồng tạm ứng chi phí tố tụng, Tòa án đã chi hết số tiền 7.500.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng trả lại cho Ngân hàng. Ngân hàng TMCP P đã nhận lại đủ 2.500.000 đồng.

Buộc bị đơn phải chịu trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền 7.500.000 đồng chi phí tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các Điều 474; 477, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 280, 292, 293, 294, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 324, 357, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010; các Điều 166, 167, 188 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P:
    1. Buộc ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H1 trả Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H Hợp đồng tín dụng hạn mức số 19904/22MB/HĐTD ngày 12/07/2022 và thẻ tín dụng (số tài khoản thẻ: 970437******0426) đã được ký kết giữa H3 với ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H, số tiền tính đến hết ngày 30/9/2024 là 567.809.009 đồng (trong đó số tiền nợ gốc là: 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 8.832.231 đồng, nợ lãi quá hạn là: 93.993.288, lãi chậm trả lãi: 1.192.881 đồng và thẻ tín dụng ông Trần Minh L: 63.790.609 đồng).
    2. Từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc, hàng tháng ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số nợ gốc chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 19904/22MB/HĐTD ngày 12/07/2022 và thẻ tín dụng (số tài khoản thẻ: 970437******0426) được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H với ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
  2. Trường hợp ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, gồm: Thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 742301, số vào sổ cấp GCN CS08819 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Q cấp ngày 27/06/2022 mang tên ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19903/22MB/HĐBĐ ngày 12/07/2022 ký giữa ông Trần Minh L, bà Hồ Thị Thanh H và ngân hàng H3 được công chứng tại Văn phòng C và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B ngày 12/7/2022.
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H phải chịu trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền 7.500.000 đồng chi phí tố tụng.
  4. Về án phí:
    1. Ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H phải chịu 26.712.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.
    2. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H số tiền tạm ứng án phí 13.000.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004763 ngày 15/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/9/2024); bị đơn ông Trần Minh L và bà Hồ Thị Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/9/2024).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Ngọc

Nguyễn Xuân Thí

Hoàng Thị Thanh Nhàn

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • Cục THADS tỉnh Quảng Bình;
  • Đương sự;
  • Lưu: hồ sơ, án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 11/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger