Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/KDTM-ST

Ngày 31/05/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Thanh ;

Ông Trần Đức Anh.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Vân, Thư ký TAND quận Bắc Từ Liêm;

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên.

Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm, công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 22/2023/TLST-KDTM ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-DS ngày 16/04/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/QĐST-HPT ngày 15/05/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C1 (Sau đây được gọi là V); Địa chỉ trụ sở: A T, quận H, thành phố Hà Nội;

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T - Phó Giám đốc V – Chi nhánh B1 và ông Trần Anh C – Phó Phòng G Chi nhánh B1 (Văn bản ủy quyền số 177/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT1 ngày 15/02/2023); Ông C có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Công ty TNHH Ứ (Sau đây được gọi là Công ty Ú); Trụ sở: Số nhà A, dãy E3, tổ dân phố số D, phường C, quận B, thành phố Hà Nội;

Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Minh P; Chức vụ; Giám đốc Công ty.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Đinh Công H, Sinh năm 1974;

3.2. Bà Mai Thị N, S năm 1979;

Cùng đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Tổ F, cụm A, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.

Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

2

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/10/2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn V1 trình bày:

Công ty Ứ vay vốn tại V – Chi nhánh B1 theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 32/2022-HĐCVHM/NHCT145-TDN, ký kết ngày 10/11/2022 (Sau đây được gọi là Hợp đồng số 32) với hạn mức cho vay/số tiền cho vay: 35.000.000.000 đồng trong thời hạn từ ngày 10/11/2022 đến ngày 10/11/2023; Mục đích vay: Bổ sung nguồn vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Ứ.

* Thỏa thuận về lãi: Tiền lãi tính theo lãi suất năm (365 ngày); Thời hạn tính lãi được tính từ ngày giải ngân đến hết ngày liền kề trước ngày thanh toán hết khoản vay. Trường hợp số dư nợ gốc bị chuyển nợ quá hạn thì bên vay phải trả lãi trên số dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Trường hợp Bên vay không trả đầy đủ và đúng hạn bất kỳ khoản tiền lãi nào theo Hợp đồng số 32 thì phải trả lãi trậm trả theo mức lãi suất bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tổng số nợ gốc của Hợp đồng số 32 tính đến hết ngày 12/12/2023 là: 35.000.000.000 đồng, chi tiết như sau:

  • + Giấy nhận nợ số 01: Ngày vay 15/11/2022, thời hạn cho vay 05 tháng. Số tiền vay 12.000.000.000 đồng, ngày trả nợ cuối cùng 15/04/2023.
  • + Giấy nhận nợ số 02: Ngày vay 16/11/2022, thời hạn cho vay 05 tháng. Số tiền vay 7.500.000.000 đồng, ngày trả nợ cuối cùng 16/04/2023.
  • + Giấy nhận nợ số 03: Ngày vay 17/11/2022, thời hạn cho vay 05 tháng. Số tiền vay 8.250.000.000 đồng, ngày trả nợ cuối cùng 17/04/2023.
  • + Giấy nhận nợ số 04: Ngày vay 18/11/2022, thời hạn cho vay 05 tháng. Số tiền vay 7.250.000.000 đồng, ngày trả nợ cuối cùng 18/04/2023.

* Tài sản bảo đảm cho dư nợ của Hợp đồng số 32 của Công ty Ứ:

  • + Chủ tài sản là ông Đinh Công H cùng vợ là Bà Mai Thị N đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 37/2021/HĐBĐ/HNCT145-THT-TDN (số C, quyển số: 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 16/08/2021. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Văn Phòng đang ký đất đai Hà Nội ngày 16/08/2021 bao gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất ở diện tích 209,5m2 tại thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 6I-III-43 có địa chỉ tại Số H ngách A Hồ N (cũ E Q), phường Q, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS024827, số vào sổ cấp GCN: CH 01302/408-2019 do UBND quận H cấp ngày 30/12/2019, đã đăng ký sang tên theo xác nhận của Văn phòng Đ ngày 12/08/2021 cho ông Đinh Công H và bà Mai Thị N.
  • + Nghĩa vụ được đảm bảo của tài sản: là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn (bao gồm: Gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác) của Công ty Ứ đối với V phát sinh từ hợp đồng số 32

3

  • * Tình hình trả nợ: Công ty Ứ đã vay tổng số tiền là 35.000.000.000 đồng. Đến nay Công ty chưa thanh toán được khoản nợ gốc nào, chỉ mới thanh toán được 342.554.793 đồng tiền lãi của 02 kì trả lãi đầu tiên (tháng 11&12/2022) cho ngân hàng. Các khoản nợ của Công ty đã quá hạn gốc và/hoặc lãi từ ngày 05/02/2023. Tổng số tiền gốc và lãi Công ty Ứ còn phải trả V tính đến hết ngày 15/05/2024 là: 41.079.957.330 đồng trong đó: Dư nợ gốc: 35.000.000.000 đồng; Nợ lãi: 6.079.957.330 đồng (Trong đó: Tổng số lãi trong hạn: 4.375.474.454 đồng, N1 gốc quá hạn: 1.704.482.877 đồng).
  • + Trong quá trình đôn đốc thu hồi nợ, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp với Công ty Ứ và đại diện chủ tài sản ông Đinh Công H, yêu cầu Công ty T1 nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng, làm việc với bên có tài sản thế chấp để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng bảo đảm. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại Công ty đã không trả được nợ, bên có tài sản thế chấp không thực hiện nghĩa vụ.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Buộc Công ty Ứ trả toàn bộ số tiền còn nợ tại V. Tổng số nợ gốc và lãi tính tạm tính đến hết ngày 11/12/2023 là: 39.058.948.281 đồng, trong đó: Nợ gốc: 35.000.000.000 đồng; Nợ lãi: 4.058.948.281 đồng (Lãi trong hạn: 3.028.529.391 đồng; Lãi quá hạn: 1.030.418.890 đồng). Công ty phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng số 32 cho đến khi trả hết nợ cho V.
  2. Kể từ ngày bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty Ứ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Chi tiết các tài sản đảm bảo: Toàn bộ quyền sử dụng đất ở diện tích 209,5 m2 tại thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 6I-III-43 có địa chỉ tại Số H ngách A Hồ N (cũ E Q), phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS024827, số vào sổ cấp GCN: CH 01302/408-2019 do UBND quận H cấp ngày 30/12/2019, đã đăng ký sang tên theo xác nhận của Văn phòng Đ ngày 12/08/2021 cho ông Đinh Công H và bà Mai Thị N.
  3. Toàn bộ tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty Ứ đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Ứ vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho V.

Bị đơn, Công ty Ứ đã được triệu tập hợp lệ nhưng không không có mặt theo triệu tập và không cung cấp chứng cứ, ý kiến hay quan điểm về việc giải quyết vụ án. Theo cung cấp của Phòng đăng ký kinh doanh Sở thuộc Kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội tại văn bản số 4484/CCTT-ĐKKD ngày 16/11/2023, Công ty Ứ chưa đăng ký thủ tục giải thể, tạm ngừng, chuyển đổi loại hình hay sáp nhập, chia tách doanh nghiệp. Các thông tin kèm theo về Công ty như địa chỉ trụ sở, đại diện theo pháp luật trùng khớp với thông tin nguyên đơn cung cấp nêu trên.

4

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Công H và bà Mai Thị N: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và ra thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về phiên tòa nhưng vẫn không có mặt theo triệu tập và không cung cấp chứng cứ, ý kiến hay quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Kết quả thẩm định xem xét tại chỗ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số 240, tờ bản đồ số 6I-III-43 có địa chỉ tại số H, ngách A (cũ E Q), phường Q, quận H, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS024827, số vào sổ cấp GCN: CH 01302/408-2019 do UBND quận H cấp ngày 30/12/2019 đã đăng ký sang tên cho ông Đinh Công H và bà Mai Thị N: Thửa đất trên có một mặt giáp phố C được quây rôn và rào lướt sắt B49; phía giáp ngõ đi ngách 187/36 Hồ N có cổng sắt và tường bao, đứng từ phố C nhìn vào trên đất có một ngôi nhà 02 tầng 01 tum có diện tích xây dựng 59.6m² và 01 cây hoa đại. Diện tích thửa đất theo hiện trạng là 253,4m², trong đó: Diện tích sử dụng riêng là 209,5m²; Diện tích sử dụng chung: 43.9m². Hiện không có người sinh sống tại nhà đất thế chấp (Theo thông tin hàng xóm và cơ quan quản lý cư trú tại địa phương cung cấp).

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án buộc Công ty Ứ trả toàn bộ số tiền còn nợ tại V, cụ thể: Tổng số nợ gốc và lãi tính tạm tính đến ngày 31/05/2024 là: 41.287.085.618 đồng, trong đó: Nợ gốc: 35.000.000.000 đồng; Nợ lãi: 6.287.085.618 đồng (Lãi trong hạn: 4.513.561.645 đồng; Lãi trên dư nợ gốc quá hạn: 1.773.523.973 đồng). Công ty phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng số 32 kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi trả hết nợ cho V. Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty Ứ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Ứ vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu ý kiến:

  • + Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền; Xác định người tham gia tố tụng đầy đủ; Việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng là đúng quy định; Việc giao quyết định xét xử và hồ sơ nghiên cứu đúng quy định; Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài do nguyên nhân khách quan (Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án theo triệu tập).

5

  • + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đủ bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình.
  • + Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty Ứ trả cho V nợ gốc, lãi theo Hợp đồng số 32, cụ thể: Số tiền nợ tạm tính đến đến ngày 31/05/2024 là: 41.287.085.618 đồng, trong đó: Nợ gốc: 35.000.000.000 đồng; Nợ lãi: 6.287.085.618 đồng (Lãi trong hạn: 4.513.561.645 đồng; Lãi trên dư nợ gốc quá hạn: 1.773.523.973 đồng). Công ty phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng số 32 kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi trả hết nợ cho V. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty Ứ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Ứ có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ. Công ty Ứ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền: Công ty Ứ là bị đơn trong vụ án có trụ sở theo đăng ký kinh doanh tại phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Tranh chấp giữa VCông ty Ứ phát sinh trong hoạt động tín dụng giữa các pháp nhân có đăng ký kinh doanh, vì mục đích lợi nhuận nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về sự vắng mặt của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với họ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng họ vẫn vắng mặt không có lí do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[2]. Về nội dung :

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, lãi của V với Công ty Ứ:

VCông ty Ứ đã ký kết Hợp đồng số 32 với các nội dung chính : V cho Công ty Ứ vay tổng số tiền 35.000.000.000 đồng, thời hạn cho vay của từng khoản nợ không quá 05 tháng ; Mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh kèm theo 04 Giấy nhận nợ số 01, 02, 03, 04 với lãi suất cho vay là 09%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn; Tiền nợ gốc được thanh toán vào cuối kỳ.

VCông ty Ứ là các pháp nhân hoạt động hợp pháp. Hợp đồng số 32 được ký kết giữa hai bên bằng văn bản, các bên tự nguyện ký kết hợp đồng, tại thời điểm ký kết các bên có đầy đủ năng lực pháp luật và hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung

6

thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội nên Hợp đồng số 32 hợp pháp theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự.

Về yêu cầu thanh toán nợ gốc: Sau khi nhận đủ số tiền vay là 35.000.000.000 (Ba mươi lăm tỷ) đồng của V vào các ngày 15, 16, 17, 18/11/2022, đến nay Công ty Ứ không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho V, vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc đã cam kết theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ nên V khởi kiện, yêu cầu Công ty Ứ phải trả cho V toàn bộ số nợ gốc đã vay là có căn cứ. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu thanh toán nợ gốc của V đối với Công ty Ứ.

Về yêu cầu thanh toán lãi: V yêu cầu Công ty Ứ trả cho V số tiền lãi là 6.287.085.618 đồng, trong đó: Lãi trong hạn: 4.513.561.645 đồng; Lãi trên dư nợ gốc quá hạn: 1.773.523.973 đồng. Theo các giấy nhận nợ, hai bên thỏa thuận lãi suất là 09% và sẽ thay đổi theo các kì nhưng Công ty Ứ chỉ mới thanh toán được 342.554.793 đồng tiền lãi của 02 kì trả lãi đầu tiên (tháng 11&12/2022) và vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 05/02/2023 nên V giữ nguyên lãi suất áp dụng. Công ty Ứ vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi theo hợp đồng tín dụng, đã quá thời hạn trả nợ gốc của tất cả các khoản vay mà chưa thanh toán cho V toàn bộ nợ gốc, lãi như thỏa thuận nên V yêu cầu Công ty Ứ thanh toán tiền nợ lãi cho V là có căn cứ. Do đó cần buộc Công ty Ứ phải thanh toán cho V số tiền lãi cụ thể :

Từ ngày Đến ngày Nợ gốc Số ngày tính lãi Số tiền lãi trong hạn Số ngày quá hạn Số tiền lãi quá hạn Số tiền lãi đã thu Số tiền lãi còn phải nộp
Giấy nhận nợ số 01
11/15/2022 4/17/2023 12,000,000,000 153/9% 452,712,329 0 0 121.315.069 331,397,260
4/17/2023 5/31/2024 12,000,000,000 411/9% 1,216,109,589 411/4.5% 608,054,795 1,824,164,384
Tổng 12,000,000,000 564 1,668,821,918 411 608,054,795 2,155,561,643
Giấy nhận nợ số 02
11/16/2022 4/16/2023 7,500,000,000 151/9% 279,246,575 0 0 73.972.602 205,273,973
4/16/2023 5/31/2024 7,500,000,000 412/9% 761,917,808 412/4.5% 380,958,904 1,142,876,712
Tổng 7,500,000,000 563 1,041,164,384 412 380,958,904 1,348,150,686
Giấy nhận nợ số 03
11/17/2022 4/17/2023 8,250,000,000 151/9% 307,171,233 0 0 79.335.616 227,835,617
4/17/2023 5/31/2024 8,250,000,000 411/9% 836,075,342 411/4.5% 418,037,671 1,254,113,014
Tổng 8,250,000,000 562 1,143,246,575 411 418,037,671 1,481,948,631
Giấy nhận nợ số 04
11/18/2022 4/18/2023 7,250,000,000 151/9% 269,938,356 0 0 67.931.605 202,006,850
4/18/2023 5/31/2024 7,250,000,000 410/9% 732,945,205 410/4.5% 366,472,603 1,099,417,808
Tổng 7,250,000,000 561 1,002,883,562 410 366,472,603 1,301,424,658
Tổng số tiền lãi phải thanh toán: 4,513,561,645 1,773,523,973 6,287,085,618

Kể từ ngày 01/6/2024, bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho nguyên đơn theo thỏa thuận về lãi suất tại Hợp đồng số 32 đã được kí kết giữa hai bên trên dư nợ gốc chưa trả đến khi thanh toán xong dư nợ gốc.

7

2.2. Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thế chấp tài sản

Tài sản bảo đảm cho khoản vay tại Hợp đồng số 32 của Công ty Ứ là toàn bộ quyền sử dụng đất ở diện tích 209,5m2 tại thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 6I-III-43 có địa chỉ tại Số H ngách A (địa chỉ cũ: E Q), phường Q, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS024827, số vào sổ cấp GCN số: CH 01302/408-2019 do UBND quận H cấp ngày 30/12/2019, đã đăng ký sang tên theo xác nhận của Văn phòng Đ ngày 12/08/2021 cho ông Đinh Công H và bà Mai Thị N theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 37/2021/HĐBĐ/HNCT145-THT-TDN (số C, quyển số: 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 16/08/2021 được ký kết giữa bên nhận thế chấp là V với bên thế chấp là ông Đinh Công H, bà Mai Thị N, lập tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại V đang ký đất đai Hà Nội ngày 16/08/2021 và đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi phát sinh từ hợp đồng số 32. Hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Công ty Ứ đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết, thỏa thuận với nguyên đơn. Vì vậy, trong trường hợp Công ty Ứ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì tài sản đã thế chấp nêu trên của của ông H và bà N sẽ được phát mãi để thu hồi nợ cho V. Do đó cần chấp nhận yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của V về xử lý tài sản đảm bảo.

2.3. Về các yêu cầu khác của V:

V yêu cầu nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Ứ có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ. Xét yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ, cần chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, V.

3. Về án phí:

Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Công ty Ứ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ các điều 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: Các điều 91, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 306 của Luật Thương mại; Điều 26 Nghị

8

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ản phí và lệ phí Tòa án.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V đối với Công ty TDN

3. Buộc Công ty Ứ phải trả cho V tổng số tiền nợ gốc và lãi đến ngày xét xử, ngày 31/05/2024 là 41.287.085.618 (Bốn mươi mốt tỉ, hai trăm tám mươi bảy triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, sáu trăm mười tám) đồng, trong đó: Nợ gốc: 35.000.000.000 đồng; Nợ lãi: 6.287.085.618 đồng (Lãi trong hạn: 4.513.561.645 đồng; Lãi trên dư nợ gốc quá hạn: 1.773.523.973 đồng) theo Hợp đồng số 32.

Kể từ ngày 01/06/2024, Công ty Ứ không trả số tiền nêu trên cho V thì Công ty Ứ còn phải chịu lãi suất trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại hợp đồng số 32, các giấy nhận nợ đến ngày trả xong nợ gốc.

4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của V nếu Công ty Ứ không trả được số tiền nêu trên thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay là: toàn bộ quyền sử dụng đất ở diện tích 209,5m2 tại thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 6I-III-43 có địa chỉ tại Số H ngách A (địa chỉ cũ: E Q), phường Q, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS024827, số vào sổ cấp GCN số: CH 01302/408-2019 do UBND quận H cấp ngày 30/12/2019, đã đăng ký sang tên theo xác nhận của Văn phòng Đ ngày 12/08/2021 cho ông Đinh Công H và bà Mai Thị N theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 37/2021/HĐBĐ/HNCT145-THT-TDN (số C, quyển số: 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 16/08/2021 được ký kết giữa bên nhận thế chấp là V với bên thế chấp là ông Đinh Công H, bà Mai Thị N, lập tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội.

5. Nếu số tiền thu được từ việc xử lí, bán tài sản đảm bảo nêu trên không đủ để thanh toán khoản nợ, Công ty Ứ phải có nghĩa vụ trả nốt số tiền còn thiếu cho V.

6. Về án phí:

6.1. Công ty Ứ phải chịu 149.287.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

6.2. Hoàn trả cho V số tiền 70.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0044239 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.

7. Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

9

8. Án xử công khai, sơ thẩm. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm;
  • - TAND, VKSND TP. Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/KDTM-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 11/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V khởi kiện Công ty Ư thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên và yêu cầu bên thế chấp thực hiện nghĩa vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger