|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HS-ST
Ngày 26 tháng 04 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Quốc Trị.
- Ông Đinh Duy Quyết.
Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Trịnh Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26/04/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST- HS ngày 15/03/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST- HS ngày 15/04/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Việt C, tên gọi khác: Đinh Trọng C1; sinh năm: 1976; tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình;
nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Việt H (đã chết) và bà Phạm Thị L; vợ: Đinh Thị N; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: (1) ngày 30/9/2012, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt hành chính số 191, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; (2) ngày 21/7/2017, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt hành chính số 251, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; (3) ngày 18/01/2017, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt hành chính số 43, phạt cảnh cáo về hành vi “Mua số lô, số đề trái phép”; (4) ngày 30/7/2017, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt hành chính số 46, phạt cảnh cáo về hành vi “Đánh bạc”; (5) ngày 29/12/2021, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt hành chính số 0400595, phạt cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; (6) ngày 29/8/2018, TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù giam, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong 7/7/2019; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/10/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: bà Ngô Thị L1 - trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt)
Những người có quyền lợi liên quan đến vụ án:
- Anh Đinh Văn B, sinh năm 1994; nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thành L2, sinh năm 1988; nơi cư trú: xóm B, xã H, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thái N1, sinh năm 1987; nơi cư trú: phố M, thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Hà Văn H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1987; nơi cư trú: xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Khắc D, sinh năm 1975; nơi cư trú: đường D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Chị Vũ Thị V, sinh năm 1973; nơi cư trú: xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Ông Ninh Thế T2, sinh năm 1969; nơi cư trú: xóm I, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Bùi Xuân T3, sinh năm 1974; nơi cư trú: đường D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đào Văn T4, sinh năm 1996; nơi cư trú: xóm F, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nắm bắt được nhu cầu cần tiền để chi tiêu của một số người dân, nên trong khoảng thời gian từ ngày 10/11/2021 đến ngày 29/9/2023 Đinh Việt C đã dùng tiền của cá nhân để cho 12 người vay với lãi suất từ 3.000đ/1.000.000đ/ngày đến 5.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương lãi suất từ 109,5%/năm đến 182,5%/năm, gấp từ 5,475 lần đến 9,125 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Tổng số tiền C đã cho 12 người vay lãi là 310.000.000 đồng; việc vay tiền, thoả thuận lãi suất, trả tiền lãi, tiền gốc giữa C và 12 người vay đều được thực hiện tại nhà C ở xóm D, xã G, huyện G. Cụ thể như sau:
- Ngày 10/11/2021, anh Nguyễn Thái N1, sinh năm 1987, trú tại phố M, thị trấn M, huyện G đến nhà C hỏi vay 10.000.000 đồng, C đồng ý cho anh N1 vay 10.000.000 đồng, mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tính lãi theo ngày, tiền lãi thanh toán vào ngày mùng 10 hàng tháng. Kể từ ngày 10/11/2021 đến tháng 11/2022, anh N1 trả cho C 5.000.000 đồng tiền lãi bằng tiền mặt. Như vậy, anh N1 vay C 10.000.000 đồng trong thời gian 684 ngày từ ngày 10/11/2021 đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh N1 phải trả cho C là 20.520.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 16.772.055 đồng. Anh N1 đã trả cho C số tiền lãi là 5.000.000 đồng, còn nợ C 10.000.000 đồng tiền gốc và 15.520.000 đồng tiền lãi.
- Ngày 10/10/2022, Anh Đinh Văn B, sinh năm 1994, trú tại xóm A, xã L, huyện G đến nhà C hỏi vay 20.000.000 đồng, C đồng ý cho anh B vay 20.000.000 đồng, mức lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tính lãi theo ngày, tiền lãi thanh toán vào ngày mùng 10 hàng tháng. Tính đến ngày 29/9/2023, B đã trả lãi cho C nhiều lần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Như vậy, anh B vay C 20.000.000 đồng trong thời gian 349 ngày từ ngày 10/10/2022 đến 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh B phải trả cho C là 20.940.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 17.115.342 đồng. Anh B đã trả cho C 10.000.000 đồng tiền lãi, còn nợ C 20.000.000 đồng tiền gốc và 10.940.000 đồng tiền lãi.
- Ngày 24/7/2023 đến ngày 29/9/2023, anh Nguyễn Thành L2, sinh năm 1988, trú tại xóm B, xã G, huyện G đã 03 lần vay tiền của C tổng số tiền anh L2 vay là 30.000.000 đồng, mức lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Cụ thể: (1) ngày 24/7/2023, C cho anh L2 vay số tiền 10.000.000 đồng bằng tiền mặt: (2) ngày 28/7/2023, C cho anh L2 vay số tiền 10.000.000 đồng bằng cách chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng M số 5545678966666 mang tên Đinh Việt C đến tài khoản ngân hàng M số 82180519898888 mang tên Nguyễn Thành L2. Tổng số tiền lãi của 02 lần vay này tính đến ngày 22/8/2023 là 2.600.000 đồng, C bớt cho anh L2 100.000 đồng, anh L2 đã trả cho C 2.500.000 đồng tiền lãi của 02 lần vay ngày 24/7/2023 và 28/7/2023; (3) ngày 22/8/2023, sau khi trả lãi của 02 lần vay, anh L2 vay thêm của C 10.000.000 đồng, C đồng ý và đưa cho anh L2 10.000.000 đồng tiền mặt tại nhà C sau đó chốt số tiền vay là 30.000.000 đồng, bắt đầu tính lãi từ ngày 22/8/2023. Như vậy, anh L2 vay C số tiền: 10.000.000 đồng trong thời gian 28 ngày từ ngày 24/7/2023 đến ngày 22/8/2023; số tiền 10.000.000 đồng trong thời gian 24 ngày từ ngày 28/7/2023 đến ngày 22/8/2023 và 30.000.000 trong thời gian 37 ngày từ ngày 22/8/2023 đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh L2 phải trả cho C là 8.150.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 9,125 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính từ khoản vay này là 7.256.849 đồng. Anh L2 đã trả cho C 2.600.000 đồng tiền lãi của lần thứ 1 và lần thứ 2 (bao gồm 2.500.000 đồng tiền mặt và 100.000 đồng C bớt cho L2). Anh L2 còn nợ C 30.000.000 đồng tiền gốc và 5.550.000 đồng tiền lãi của lần vay thứ 3.
- Từ ngày 30/5/2023 đến ngày 29/9/2023, chị Vũ Thị V, sinh năm 1973, trú tại xóm D, xã G, huyện G đã 02 lần vay tiền của C, tổng số tiền là 30.000.000 đồng, mức lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tính lãi theo ngày. Cụ thể: (1) ngày 30/5/2023, chị V đến nhà C và hỏi vay 10.000.000 đồng, C đồng ý và đưa 10.000.000 đồng. Đến ngày 30/6/2023, chị V trả cho C số tiền 1.000.000 đồng tiền mặt (bao gồm 900.000 đồng liền lãi, còn 100.000 đồng sẽ trừ vào tiền lãi tháng sau); (2) ngày 30/6/2023, sau khi trả lãi của lần vay ngày 30/5/2023 chị V vay thêm của C 20.000.000 đồng C đồng ý và đưa cho chị V 20.000.000 đồng, sau đó C chốt số tiền vay là 30.000.000 đồng, bắt đầu tính lãi từ ngày 30/6/2023. Đến ngày 30/7/2023, chị V trả cho C số tiền lãi 1.700.000 đồng bằng tiền mặt. Như vậy, chị V vay C số tiền 10.000.000 đồng trong thời gian 30 ngày từ ngày 30/5/2023 đến 30/6/2023 và 30.000.000 đồng trong thời gian 89 ngày từ ngày 30/6/2023 đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền lãi chị V phải trả cho C cho là 8.910.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 7.282.602 đồng. Chị V đã trả cho C tổng số tiền lãi là 2.700.000 đồng, còn nợ C 30.000.000 đồng tiền gốc và 6.210.000 đồng tiền lãi của lần vay thứ 2.
- Từ ngày 30/5/2023 đến ngày 29/9/2023, anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, trú tại xóm D, xã G, huyện G đã 02 lần vay tiền của C tổng số tiền là 100.000.000 đồng, mức lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tính lãi theo ngày. Cụ thể: (1) ngày 30/5/2023, C cho anh T vay số tiền 50.000.000 đồng bằng tiền mặt. Đến ngày 27/6/2023, anh T trả cho C số tiền lãi là 5.000.000 đồng bằng tiền mặt và ngày 28/9/2023, anh T trả cho C số tiền lãi 10.000.000 đồng bằng tiền mặt; (2) ngày 20/9/2023 C cho T vay số tiền 50.000.000 đồng bằng tiền mặt. Như vậy, anh T vay của C 50.000.000 đồng trong thời gian 119 ngày từ ngày 30/5/2023 đến ngày 29/9/2023 và 50.000.000 đồng trong thời gian 09 ngày từ ngày 20/9/2023 đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh T phải trả cho C là 19.200.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 15.693.151 đồng. Anh T đã trả cho C 15.000.000 đồng tiền lãi, anh T còn nợ C 100.000.000 đồng tiền gốc và 4.200.000 đồng tiền lãi (Trong đó: nợ lãi vay lần thứ 1 là 2.850.000 đồng, vay lần thứ 2 là 1.350.000 đồng).
- Từ ngày 29/4/2023 đến ngày 29/9/2023, anh Trần Văn T1, sinh năm 1986, trú tại xóm D, xã G, huyện G đã 02 lần vay tiền của C tổng số tiền vay là 20.000.000 đồng, mức lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tính lãi theo ngày. Cụ thể: (1) ngày 29/4/2023, C cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng bằng tiền mặt và thoả thuận đến ngày 29 hàng tháng sẽ trả lãi. Đến ngày 29/5/2023, anh T1 trả cho C số tiền lãi là 1.500.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền gốc bằng tiền mặt; (2) ngày 05/5/2023 C cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng bằng tiền mặt. Như vậy, anh T1 vay của C 10.000.000 đồng trong thời gian 30 ngày từ ngày 29/4/2023 đến ngày 29/5/2023 và 10.000.000 đồng trong thời gian 144 ngày từ ngày 05/5/2023 đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh T1 phải trả cho C là 8.700.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 9,125 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 7.746.575 đồng. Anh T1 đã trả cho C 1.500.000 đồng tiền lãi và 10.000.000 đồng tiền gốc của lần vay thứ 1, anh T1 còn nợ C 10.000.000 đồng tiền gốc và 7.200.000 đồng tiền lãi của lần vay thứ 2.
- Ngày 07/6/2023, ông Ninh Thế T2, sinh năm 1969, trú tại xóm I, xã G, huyện G đến nhà C hỏi vay 30.000.000 đồng, C đồng ý cho ông T2 vay, mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tính lãi theo ngày; đồng thời đưa 10.000.000 đồng tiền mặt cho ông T2 và chuyển số tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản M số [...] mang tên Đinh Việt C đến tài khoản ngân hàng A số 3310205028463 mang tên Ninh Thế T2. Đến ngày 07/7/2023, ông T2 trả cho C số tiền lãi 2.000.000 đồng bằng tiền mặt. Như vậy, ông T2 vay của C số tiền 30.000.000 đồng trong thời gian 112 ngày từ ngày 07/6/2023 đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền lãi ông T2 phải trả cho C là 10.080.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 8.238.904 đồng, ông T2 đã trả cho C số tiền lãi là 2.000.000 đồng, còn nợ lại C 30.000.000 đồng tiền gốc và 8.080.000 đồng tiền lãi.
- Ngày 22/9/2023, anh Hà Văn H1, sinh năm 1997, trú tại xóm D, xã G, huyện G đến nhà C hỏi vay 10.000.000 đồng, C đồng ý cho anh H1 vay tiền, mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, lãi tính theo ngày; đồng thời chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản M số [...] mang tên Đinh Việt C đến tài khoản ngân hàng V1 số 0813598997 mang tên Hà Văn H1. Như vậy, tính đến ngày 29/9/2023 H1 vay của C số tiền 10.000.000 đồng trong thời gian 07 ngày từ ngày 22/9/2023 đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh H1 phải trả cho C là 210.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 171.644 đồng. Ngày 25/01/2024 anh H1 đã trả cho C 10.000.000 đồng tiền gốc. Anh H1 còn nợ lại C 210.000 đồng tiền lãi.
- Ngày 20/7/2023, anh Đào Văn T4, sinh năm 1996, trú tại xóm F, xã G, huyện G đến nhà C hỏi vay 20.000.000 đồng, C đồng ý cho anh T4 vay tiền, mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tính lãi theo ngày; đồng thời đưa 20.000.000 đồng tiền mặt cho anh T4. Đến ngày 20/8/2023, anh T4 trả cho C số tiền lãi 3.000.000 đồng bằng tiền mặt và đến ngày 20/9/2023, anh T4 trả cho C số tiền lãi 3.000.000 đồng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng V2 số [...] mang tên Đào Văn T4 đến tài khoản ngân hàng M số 5545678966666 mang tên Đinh Việt C. Như vậy, anh T4 vay của C số tiền 20.000.000 đồng trong thời gian 69 ngày từ ngày 20/7/2023 đến 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh T4 phải trả cho C là 6.900.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 9,125 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 6.143.836 đồng. Anh T4 đã trả cho C tổng số tiền lãi là 6.000.000 đồng, còn nợ C 20.000.000 đồng tiền gốc và 900.000 đồng lãi.
- Ngày 20/3/2023, anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1987, trú tại xóm H, xã G, huyện G đã đến nhà C hỏi vay 20.000.000 đồng, C đồng ý cho anh H2 vay tiền, mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tiền lãi tính theo ngày và sẽ trả vào ngày 20 hàng tháng; đồng thời chuyển số tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản M số [...] mang tên Đinh Việt C đến tài khoản ngân hàng V2 số 0986868198 mang tên Nguyễn Văn H2, anh H2 đã 04 lần trả tiền lãi cho C vào các ngày 20/4/2023, 20/5/2023, 20/6/2023 và 20/7/2023, mỗi lần 1.800.000 đồng bằng tiền mặt, tổng cộng là 7.200.000 đồng. Như vậy, anh H2 vay của C số tiền 20.000.000 đồng trong thời gian 189 ngày từ ngày 20/3/2023 đến 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh H2 phải trả cho C là 11.340.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 9.268.767 đồng. Anh H2 đã trả cho C số tiền lãi là 7.200.000 đồng. Ngày 20/12/2023 anh H2 đã trả cho C 20.000.000 đồng tiền gốc, anh H2 còn nợ lại C 4.140.000 đồng tiền lãi.
- Ngày 18/8/2023, anh Nguyễn Khắc D, sinh năm 1975, trú tại thôn đường D, xã G, huyện G đến nhà C vay 10.000.000 đồng, C đồng ý cho anh D vay tiền, mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, lãi tính theo ngày; đồng thời đưa 10.000.000 đồng tiền mặt cho anh D. Đến ngày 17/9/2023, tại Bệnh viện H3, Hà Nội, anh D đã nhờ anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1986, trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của anh H2 đến tài khoản ngân hàng M số 5545678966666 mang tên Đinh Việt C để trả tiền lãi cho C. Như vậy, anh D vay của C số tiền 10.000.000 đồng trong thời gian 41 ngày từ ngày 18/8/2023 đến 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh D phải trả cho C là 1.230.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 1.005.342 đồng. Anh D đã trả cho C số tiền lãi là 1.000.000 đồng, còn nợ C 10.000.000 đồng tiền gốc và 230.000 đồng tiền lãi.
- Ngày 23/7/2023, anh Bùi Xuân T3, sinh năm 1974, trú tại thôn Đ, xã G, huyện G đến nhà C và hỏi vay 10.000.000 đồng, C đồng ý cho anh T3 vay tiền, mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, lãi tính theo ngày; đồng thời lấy 10.000.000 đồng tiền mặt đưa cho anh T3. Anh T3 chưa thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho C. Như vậy, anh T3 vay của C số tiền 10.000.000 đồng trong thời gian 66 ngày từ ngày 23/7/2023 đến 29/9/2023. Tổng số tiền lãi anh T3 phải trả cho C là 1.980.000 đồng, mức lãi suất cho vay gấp 5,475 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật. Số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 1.618.356 đồng.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 10/11/2021 đến ngày 29/9/2023, tổng số tiền C cho các anh Nguyễn Thái N1, Đinh Văn B, Nguyễn Thành L2, Nguyễn Văn T, Trần Văn T1, Ninh Thế T2, Hà Văn H1, Đào Văn T4, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Khắc D, Bùi Xuân T3 và chị Vũ Thị V vay là 310.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi 12 người vay phải trả cho C là 118.160.000 đồng, tổng số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 19.846.575 đồng, tổng số tiền C thu lời bất chính đối với khoản vay này là 98.313.425 đồng. Tổng số tiền C đã thu của 12 người vay là 92.900.000 đồng (bao gồm 40.000.000 đồng tiền gốc và 52.900.000 đồng tiền lãi). Số tiền 12 người vay còn nợ C là 335.160.000 đồng (bao gồm 270.000.000 đồng tiền gốc và 65.160.000 đồng tiền lãi).
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-GV ngày 14/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Đinh Việt C ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1, khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Đinh Việt C phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Việt C từ 21 (hai mươi mốt) tháng đến 23 (hai ba) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo C cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S plus, số IMEI 1: 353292073537470, lắp sim thuê bao 0352.968.280, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Đinh Việt C.
Đối với số tiền 310.000.000 đồng bị cáo C cho vay nặng lãi (Trong đó: nợ gốc người vay chưa trả là 270.000.000 đồng, đã trả cho bị cáo C là 40.000.000 đồng), cần truy thu sung quỹ Nhà nước. Cụ thể: bị cáo Đinh Việt C phải nộp 40.000.000 đồng; Nguyễn Thái N1 phải nộp 10.000.000 đồng; Đinh Văn B phải nộp 20.000.000 đồng; Nguyễn Thành L2 phải nộp 30.000.000 đồng; Vũ Thị V phải nộp 30.000.000 đồng; Nguyễn Văn T phải nộp 100.000.000 đồng; Trần Văn T1 phải nộp 10.000.000 đồng; Ninh Thế T2 phải nộp 30.000.000 đồng; Đào Văn T4 phải nộp 20.000.000 đồng; Nguyễn Khắc D phải nộp 10.000.000 đồng và Bùi Xuân T3 phải nộp 10.000.000 đồng.
Đối với số tiền lãi bị cáo Đinh Việt C thu cao hơn mức lãi xuất theo quy định của pháp luật là 43.968.492 đồng. Ngày 25/03/2024 Nguyễn Thái N1, Đinh Văn B, Nguyễn Thành L2, Vũ Thị V, Nguyễn Văn T, Trần Văn T1, Ninh Thế T2, Hà Văn H1, Đào Văn T4, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Khắc D và Bùi Xuân T3, không đề nghị bị cáo C phải trả lại cho những người vay, đây là sự tự nguyện, thỏa thuận, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo C không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Đinh Việt C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo là người khuyết tật đang được hưởng trợ cấp xã hội.
Người bào chữa cho bị cáo C có bài phát biểu quan điểm đồng ý với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo C, sau khi phạm tội thật thà khai báo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: đều khai nhận có vay tiền với lãi xuất cao và đã trả cho bị cáo C một phần lãi và gốc theo thỏa thuận, như cáo trạng đã truy tố. Ngày 25/03/2024 Nguyễn Thái N1, Đinh Văn B, Nguyễn Thành L2, Vũ Thị V, Nguyễn Văn T, Trần Văn T1, Ninh Thế T2, Hà Văn H1, Đào Văn T4, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Khắc D và Bùi Xuân T3, có đơn thỏa thuận, không đề nghị bị cáo C phải trả lại tiền lãi, mà những người vay đã trả cho bị cáo C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời nhận tội của bị cáo Đinh Việt C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với vật chứng thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: trong thời gian từ ngày 10/11/2021 đến ngày 29/9/2023 bị cáo Đinh Việt C dùng tiền cá nhân cho 12 người vay số tiền 310.000.000đ với lãi xuất từ 109,5%/năm đến 182,5%/năm, gấp từ 5,475 đến 9,125 lần so với mức lãi xuất tối đa theo quy định của pháp luật, thu lời bất chính đối với khoản vay này là 98.313.425 đồng, bị cáo C đã thu tiền lãi và tiền gốc của 12 người vay là 92.900.000 đồng (trong đó 40.000.000 đồng tiền gốc và 52.900.000 đồng tiền lãi).
Điều 201bộ luật hình sự quy định: tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
- Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
...
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Từ căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội: “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố bị cáo C là có căn cứ đúng pháp luật.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Đinh Việt C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng đang được hưởng trự cấp xã hội hàng tháng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu bị cơ quan nhà Nước có thẩm quyền xử phạt về các hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, “Mua bán số lô số đề”; “ Đánh bạc” và bị đưa ra xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
[3] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị mức xử phạt đối với bị cáo là đủ nghiêm khắc, đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ xung: bị cáo C không có công ăn việc làm, là người khuyết tật nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo C.
[5] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Đối 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S plus, số IMEI 1: 353292073537470, lắp sim thuê bao 0352.968.280, đã qua sử dụng, bị cáo C dùng làm phương tiện liên lạc, giao dịch về hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 310.000.000 đồng bị cáo C cho 12 người vay với lãi xuất cao gấp nhiều lần so với quy định của pháp luật, một số người vay đã trả cho bị cáo C một phần tiền gốc được 40.000.000 đồng, còn lại chưa trả cho bị cáo gồm: Nguyễn Thái N1 10.000.000 đồng; Đinh Văn B 20.000.000 đồng; Nguyễn Thành L2 30.000.000 đồng; Vũ Thị V 30.000.000 đồng; Nguyễn Văn T 100.000.000 đồng; Trần Văn T1 10.000.000 đồng; Ninh Thế T2 30.000.000 đồng; Đào Văn T4 20.000.000 đồng; Nguyễn Khắc D 10.000.000 đồng và Bùi Xuân T3 10.000.000 đồng. đây là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Buộc bị cáo Đinh Việt C phải nộp 40.000.000 đồng; Nguyễn Thái N1 phải nộp 10.000.000 đồng; Đinh Văn B phải nộp 20.000.000 đồng; Nguyễn Thành L2 phải nộp 30.000.000 đồng; Vũ Thị V phải nộp 30.000.000 đồng; Nguyễn Văn T phải nộp 100.000.000 đồng; Trần Văn T1 phải nộp 10.000.000 đồng; Ninh Thế T2 phải nộp 30.000.000 đồng; Đào Văn T4 phải nộp 20.000.000 đồng; Nguyễn Khắc D phải nộp 10.000.000 đồng và Bùi Xuân T3 phải nộp 10.000.000 đồng.
- Đối với số tiền lãi bị cáo Đinh Việt C thu 52.900.000đ, với mức lãi xuất 20%/năm theo quy định của bộ luật dân sự, thì tổng số tiền bị cáo C cho những người vay như đã trình bày ở trên, thì bị cáo C chỉ được nhận số tiền lãi là 8.931.508đ, buộc bị cáo C phải nộp số tiền 8.931.508đ sung công quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 43.968.492đ bị cáo C đã thu vượt quá mức lãi xuất theo quy định của pháp luật của những người vay. Tại biên bản thỏa thuận ngày 25/03/2024 những người vay gồm: Nguyễn Thái N1, Đinh Văn B, Nguyễn Thành L2, Vũ Thị V, Nguyễn Văn T, Trần Văn T1, Ninh Thế T2, Hà Văn H1, Đào Văn T4, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Khắc D và Bùi Xuân T3, tất cả người vay đều không đề nghị bị cáo C phải trả lại. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- [7] Về án phí: bị cáo Đinh Việt C là người khuyết tật nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Việt C.
- [8] bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Việt C phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: bị cáo Đinh Việt C 21 (hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo C có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G giám sát giáo dục bị cáo C. Không khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng tư pháp:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S Plus, số IMEI: 353292073537470, lắp sim thuê bao 0352968280, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Đinh Việt C.
Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/03/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.
- Truy thu số tiền 310.000.000₫ mà bị cáo Đinh Việt C đã sử dụng vào việc phạm tội cho vay lãi nặng và 8.931.508 đồng do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước trong đó: bị cáo Đinh Việt C phải nộp 40.000.000 đồng và số tiền 8.931.508 đồng do phạm tội mà có, tổng cộng bị cáo C phải nộp 48.931.508 đồng; Nguyễn Thái N1 phải nộp 10.000.000 đồng; Đinh Văn B phải nộp 20.000.000 đồng; Nguyễn Thành L2 phải nộp 30.000.000 đồng; Vũ Thị V phải nộp 30.000.000 đồng; Nguyễn Văn T phải nộp 100.000.000 đồng; Trần Văn T1 phải nộp 10.000.000 đồng; Ninh Thế T2 phải nộp 30.000.000 đồng; Đào Văn T4 phải nộp 20.000.000 đồng; Nguyễn Khắc D phải nộp 10.000.000 đồng và Bùi Xuân T3 phải nộp 10.000.000 đồng.
3. Về án phí: Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Đinh Việt C.
Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐÒNG XÉT XỬ SƠ THẢM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Tưởng |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Trọng Cường PT cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
