|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --- |
|
Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày 08-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Quang Hòa;
- Bà Trần Thị Ba.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Trần Công Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và các Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 11/TB-TA ngày 11/4/2024 và số 12/TB-TA ngày 15/4/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Hải N, sinh ngày 10/7/1991; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Nguyễn Thị M; chồng Huỳnh Công P; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự: không; tiền án: ngày 11/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 29/2015/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2017, bị cáo chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự; ngày 29/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 33/2022/HSST, bị cáo đang hoãn thi hành án theo Quyết định số 07/2022/THAHS ngày 14/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn. Nhân thân: ngày 24/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 36/2013/HSST; ngày 25/11/2015, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 117/2015/HSST. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại:
- + Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1966. Có mặt
- Địa chỉ: tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1974. Vắng mặt
- Địa chỉ: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Bà Đặng Thị T, sinh năm 1964. Có mặt
- Địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Chị Trương Thị Vĩ T1, sinh năm 1984. Vắng mặt
- Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Ông Trần P1, sinh năm 1953. Có mặt
- Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- Người đại diện hợp pháp: ông Lê Văn T2 – chức vụ: Trưởng phòng. Vắng mặt
- + Anh Dương Đình B, sinh năm 2000. Vắng mặt
- Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Anh Trần Quang V, sinh năm 1998. Vắng mặt
- Địa chỉ: thôn C, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam.
- + Anh Lê L, sinh năm 1970. Vắng mặt
- Địa chỉ: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- + Anh Nguyễn Duy S, sinh năm 1979. Vắng mặt
- Địa chỉ: khối phố L, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- Người làm chứng: chị Trần Thị Thúy K, sinh năm 2004. Vắng mặt
Địa chỉ: số I, đường H, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, B và V đến nhà bị cáo N chơi. Bị cáo mượn xe mô tô hiệu Exciter, màu trắng, biển kiểm soát 92K1-159.54 của V để đi mua đồ ăn. Sau khi điều khiển xe đến thị trấn Đ để mua đồ ăn xong, bị cáo quay về theo hướng đi lên xã Q. Bị cáo nhìn thấy bên trái đường có tiệm tạp hóa của ông Nguyễn Đ. Bị cáo vào mua thuốc hút, nhưng không có người. Bị cáo nhìn vào trong tủ thấy có tiền và card điện thoại bỏ trong 01 (một) cái hủ bằng nhựa trong suốt, có nắp màu đỏ nên nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo đi vào quán bằng đường hông bên trái nhà, đến tủ kính và lấy cái hủ đựng tiền và card điện thoại. Bị cáo đi ra khỏi quán và điều khiển xe mô tô quay ngược lại, đi vào đường chợ mới Đ. Khi đến khu vực cầu D thuộc xã Q, bị cáo dừng xe lại, lấy tiền và card vừa trộm được bỏ vào túi quần và vứt hủ đựng tiền xuống cầu D. Bị cáo điều khiển xe về nhà và trả xe cho V. Đến 07 giờ ngày 16/7/2023, bị cáo đi ra thành phố Đà Nẵng để thăm con. Khi đến thành phố Đà Nẵng, bị cáo ghé vào quán tạp hóa (không xác định được tên quán địa chỉ) bán hết card trộm được của nhà ông Đ cho người phụ nữ (không rõ họ tên địa chỉ) với số tiền 4.000.000 đồng. Bị cáo trả cho người thanh niên có tên L1 ở thành phố Đà Nẵng (không xác định được) số tiền 3.500.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo tiêu xài cá nhân hết. Tài sản bị cáo trộm được gồm số tiền: 1.000.000 đồng và 190 card V2, V1, M1 mệnh giá 50.000 đồng, 100.000 đồng, 20.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 190 card V2, V3, M1 mệnh giá 50.000 đồng, 100 000 đồng, 20.000 đồng có giá trị: 6.990.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm của ông Nguyễn Đ là 7.990.000 (Bảy triệu chín trăm chín mươi nghìn) đồng.
Vụ thứ hai và vụ thứ ba: khoảng 14 giờ 35 phút ngày 09/9/2023, bị cáo đi bộ từ nhà ra đường ĐT611 để xuống thị trấn Đ. Khi bị cáo đi đến trước cửa nhà bà C, nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu HamCo, biển kiểm soát 92N2-2381 dựng trước hiên nhà có cắm sẵn chìa khóa. Bị cáo quan sát không có người quản lý nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để sử dụng. Bị cáo mở khóa, nổ máy xe chạy đến chợ Đ1. Bị cáo để xe tại nhà giữ xe của ông Nguyễn M, đi qua cổng phụ vào chợ Đ1 để mua đồ dùng sinh hoạt cá nhân. Khi đi ngang quầy hàng buôn bán rau củ quả của bà Đặng Thị T, thấy có một túi xách bằng da màu nâu đen có quai đeo để trên mặt hàng buôn bán, không có người trông giữ, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo dùng tay phải cầm quai túi xách, đi đến nhà vệ sinh nữ của khu phố chợ, mở túi xách vừa trộm cắp được thấy có 01 ví hình chữ nhật bằng vải bên trong có số tiền 1.300.000 đồng và một số giấy tờ cá nhân: căn cước công dân, sổ tiết kiệm ngân hàng, giấy đăng ký xe, thẻ hội viên hội phụ nữ. Bị cáo khai nhận chỉ lấy số tiền 1.300.000 đồng cất vào túi áo khoác đang mặc rồi để lại ví cùng giấy tờ vào túi xách và treo túi xách ở cánh cửa phòng tolet chợ rồi đi về. Bà T khai báo bị mất trộm gồm: 01 dây chuyền 03 chỉ vàng tây 18K; 01 mặt dây chuyền 0,5 chỉ vàng tây 18K; 01 (một) nhẫn 0,5 chỉ vàng tây 18K, có đính đá màu xanh dương, 01 (một) túi xách, hình vuông, bằng da, màu nâu đen, 01 (một) ví bằng vải và số tiền: 2.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 03/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HamCo, biển kiểm soát 92N2- 2381 trị giá: 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng. Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐG ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 dây chuyền 03 chỉ vàng tây 18K giá trị: 11.100.000 đồng; 01 mặt dây chuyền 0,5 (không phẩy năm) chỉ vàng tây 18K trị giá: 1.850.000 đồng; 01 (một) nhẫn 0,5 (không phẩy năm) chỉ vàng tây 18K, có đính đá màu xanh dương trị giá: 1.850.000 đồng; 01 (một) túi xách, hình vuông, bằng da, màu nâu đen, 01 (một) ví bằng vải trị giá: 0 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá: 14.800.000 (Mười bốn triệu tám trăm nghìn) đồng. Tổng số tài sản N trộm của bà Nguyễn Thị Kim C và Đặng Thị T là: 18.300.000 (Mười tám triệu ba trăm nghìn) đồng.
Vụ thứ tư: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/10/2023, bị cáo đi bộ ra đường ĐT611 và xin xe (một người không xác định được) đến Trung tâm y tế huyện Q. Bị cáo đi bộ vào hướng Chùa T3, nhìn thấy nhà của chị Trương Thị Vĩ T1 đang mở cửa, quan sát không thấy ai nên bị cáo có ý định vào nhà để trộm cắp tài sản. Khi vào đến nhà, bị cáo thấy anh Nguyễn Hoàng H (con của chị T1) đang nằm trên ghế tại phòng khách nên bị cáo hạ thấp người, lén đi vào phòng ngủ đầu tiên. Bị cáo quan sát, thấy túi xách màu trắng, có hai quai cầm. Bị cáo lấy túi xách đi đến phòng ngủ thứ hai đóng cửa lại, mở túi xách thấy có 01 (một) cái Laptop nhãn hiệu HP màu xanh; 01 (một) cái máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, có vỏ bọc bên ngoài màu đen; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 105 màu đen và 01 (một) cái ví da có các loại giấy tờ. Sau đó, bị cáo bỏ Laptop, máy tính bảng và điện thoại di động N1 vào lại túi xách; để lại cái ví da có các loại giấy tờ ở góc tường, cạnh cửa ra vào của phòng ngủ thứ hai, rồi mang theo túi xách lên đi ra ngoài ra đường ĐT611. Bị cáo xin xe người đi đường để về nhà. Đến khoảng 20 giờ ngày 13/10/2023, bị cáo đón xe ghép (không rõ biển kiểm soát) đến khu vực gần chợ tại thành phố Đà Nẵng (không nhớ tên chợ, địa chỉ cụ thể) để bán máy tính bảng nhãn hiệu SamSung trên cho một cửa hàng (không rõ tên địa chỉ cửa hàng) được số tiền 2.700.000 đồng. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/10/2023, bị cáo đi xe buýt (không rõ biển kiểm soát) đến thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam và bán cái Laptop nhãn hiệu HP tại Trung tâm điện thoại di động Duy Sinh cho ông Nguyễn Duy S được số tiền 1.600.000 đồng rồi về lại nhà. Trên đường về nhà, bị cáo vứt bỏ túi xách trên ven đường Q (không nhớ cụ thể đoạn đường nào). Bị cáo dùng số tiền có được để tiêu xài cá nhân. Bị cáo giữ lại điện thoại Nokia 105 màu đen trộm được để sử dụng. Cái L2 mà bị cáo trộm được thuộc sở hữu của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Q giao cho chị T1 quản lý, sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐG ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 cái túi xách, màu trắng có hai quai cầm, kích thước (40x30) cm, trị giá: 711.000 đồng; 01 cái Laptop, nhãn hiệu HP, màu xanh, trị giá: 16.625.000 đồng; 01 cái Ipad, nhẫn hiệu SAMSUNG, màu xanh trị giá 6.650.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 24.036.000 (Hai mươi bốn triệu không trăm ba mươi sáu nghìn) đồng.
Vụ thứ năm: Vào khoảng 09 giờ ngày 01/12/2023, bị cáo đến Trung tâm y tế huyện Q để giải quyết việc cá nhân. Sau khi giải quyết công việc xong, bị cáo ra trước cổng Trung tâm y tế huyện Q xin xe một người đi đường (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đến khu vực chợ Đ2 thuộc thôn P, xã Q, huyện Q với mục đích trộm cắp tài sản kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi đến chợ Đ2, bị cáo đi dạo xung quanh chợ, khi đi qua một quầy gia vị của ông Trần P1, thấy không có người trông coi, bị cáo đi tới tủ kính bên trong quầy và phát hiện có một bao ni lông màu đen được cột miệng bao. Lúc này, bị cáo đưa tay vào bên trong tủ kính, lấy bao ni lông mở ra xem, thấy có nhiều tờ tiền với nhiều mệnh giá. Bị cáo cột miệng bao lại và cầm trên tay và đi ra khỏi quầy. Lúc này, ông P1 đi về quầy phát hiện mất tiền đã gọi điện báo cho Công an xã Q biết. Sau đó, Công an xã Q đến chợ, phát hiện bị cáo N có nhiều biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở của Ban quản lý chợ để làm việc. Tại đây, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông P1 và giao nộp lại số tiền vừa trộm được 7.100.000 (Bảy triệu) đồng cho Công an xã Q.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- + 03 đĩa DVD trích xuất từ camera ghi lại sự việc Nguyễn Thị Hải N trộm cắp tài sản được niêm phong trong bì thư của Công an huyện Q (lưu hồ sơ vụ án).
- + 01 (một) mô tô biển số 92K1-159.54, loại Yamaha Exciter (đã trả lại cho anh Trần Quang V);
- + 01 (một) xe mô tô, hiệu HAMCO, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số 92N2-2381; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 0068340, biển số 92N2-2381, tên Lê L (đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim C);
- + 01 (một) túi xách hình vuông bằng da màu nâu đen có 02 (hai) quai xách;
- + 01 (một) ví bằng vải nhiều màu;
- + 01 (một) căn cước công dân tên Đặng Thị T, 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 92GA-004.08 tên Đặng Thị T, 01 (một) thẻ tiết kiệm có kỳ hạn, ngân hàng S1 số CV 340345, tên Đặng Thị T; 01 (một) thẻ hội viên Hội liên hiệp phụ nữ tên Đặng Thị T (đã trả lại cho bà Đặng Thị T).
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 bàn phím màu đen, số seri 352115456285543.
- + 01 (một) thẻ sim điện thoại, mạng Vinaphone của bị cáo;
- + Số tiền: 7.100.000 đồng (đã trả cho ông Trần P1);
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSQS ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hải N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 36 đến 40 tháng tù. Căn cứ vào Điều 56 và Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt tại Bản án số 33/2022/HSST ngày 19/4/2022; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: trả lại cho bà Đặng Thị T 01 (một) túi xách hình vuông bằng da màu nâu đen, có 02 (hai) quai xách và 01 (một) ví bằng vải nhiều màu; trả lại cho chị Trương Thị Vĩ T1 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại Nokia 105, bàn phím màu đen, số seri 352115456285543; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 03 đĩa DVD trích xuất từ camera ghi lại sự việc Nguyễn Thị Hải N trộm cắp tài sản được niêm phong trong bì thư của Công an huyện Q.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Các bị hại đều đề nghị xét xử nghiêm minh nhằm răn đe đối với bị cáo, đồng thời có biện pháp giáo dục, phòng ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, bị hại chị Trương Thị Vĩ T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện hợp pháp của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Q, ông Lê Văn T2 có đơn xin xét xử vắng mặt; bị hại bà Nguyễn Thị Kim C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293 và 299 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Hải N đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:
Trong các ngày 15/7, 09/9, 13/10 và 01/12 năm 2023, tại trên địa bàn huyện Q, tỉnh Quảng Nam, bị cáo N đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của nhiều người: ông Nguyễn Đ, bà Nguyễn Thị Kim C, bà Đặng Thị T, bà Trương Thị Vĩ T1 và ông Trần P1. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo N đã trộm cắp là 57.426.000 (Năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn) đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 06/CT-VKSQS ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện đang hoãn thi hành án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vì nuôi con dưới 36 tháng tuổi, nhưng với bản chất lười lao động, thích hưởng thụ, bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mình mà tiếp tục lợi dụng sự sơ hở và mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu: ngày 24/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 36/2013/HSST; ngày 25/11/2015, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 117/2015/HSST.
Về tình tiết tăng nặng: ngày 11/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” tại bản án số 29/2015/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2017, nhưng chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự; ngày 19/4/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 33/2022/HSST, bị cáo đang hoãn thi hành án theo Quyết định số 07/2022/THAHS ngày 14/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản năm lần của năm người khác nhau. Vì vậy, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” và “Phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đang nuôi con nhỏ, dưới 36 tháng tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa nhưng phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đề nghị xử phạt bị cáo từ 36 đến 40 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo coi thường pháp luật, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội gây bức xúc, lo lắng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hơn nữa, các bị hại đều yêu cầu xét xử bị cáo một mức án nghiêm minh. Do đó, mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo đang được hoãn chấp hành án phạt tù vì đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đối với Bản án số 33/2022/HSST ngày 19/4/2022 mà thực hiện hành vi phạm tội mới, vì vậy Tòa án áp dụng Điều 67 và Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Ông Nguyễn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.990.000 đồng, bà Đặng Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16.800.000 đồng và chị Trương Thị Vĩ T1 có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 357, 468, 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại mà bị hại đã yêu cầu.
Riêng bà Nguyễn Thị Kim C và ông Trần P1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với cái L2 thuộc sở hữu của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Q đã giao cho chị T1 quản lý, sử dụng. Đại diện của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Q không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bà Đặng Thị T 01 (một) túi xách hình vuông bằng da màu nâu đen có 02 (hai) quai xách và 01 (một) ví bằng vải nhiều màu; trả lại cho chị Trương Thị Vĩ T1 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại Nokia 105, bàn phím màu đen, số seri 352115456285543; trả lại cho bị cáo 01 sim điện thoại mạng Vinaphone; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 03 đĩa DVD trích xuất từ camera ghi lại sự việc Nguyễn Thị Hải N trộm cắp tài sản được niêm phong trong bì thư của Công an huyện Q.
[8]. Những vấn đề khác trong vụ án:
- - Đối với hành vi cho mượn xe mô tô hiệu Exciter, màu trắng, biển kiểm soát 92K1-159.54: anh Trần Quang V không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi thực hiện hành vi trộm cắp nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q không xử lý và trả xe lại cho anh V là phù hợp.
- - Đối với hành vi mua Laptop của anh Nguyễn Duy S: do anh S không biết đó là tài sản trộm cắp mà có, nên cơ quan điều tra không xử lý đối với hành vi của anh S là phù hợp. Anh S khai đã bán lại cho người đàn ông (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) với số tiền 2.000.000 đồng nên không tiến hành thu giữ được.
- - Đối với máy tính bảng, nhãn hiệu SamSung mà bị cáo trộm của chị Trương Thị Vĩ T1: bị cáo bán cho 01 cửa hàng khu vực chợ (không nhớ được tên chợ và cửa hàng) tại thành phố Đà Nẵng nên không có cơ sở để tiến hành xác minh thu giữ.
- - Đối với số tiền 3.500.000 đồng mà bị cáo có được từ việc bán card điện thoại trộm cắp được của ông Đ: bị cáo đã trả người đàn ông L ở thành phố Đà Nẵng: do không xác định được tên tuổi địa chỉ của anh L1 nên không thu giữ được.
- - Đối với 01 cái hủ nhựa, 01 cái túi xách màu trắng trộm được : bị cáo đã vứt bỏ ngoài đường không xác định được vị trí để truy tìm.
[9]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 48, Điều 56 và Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 292, 299, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 589, của Bộ luật Dân sự 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Hải N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại Bản án số 33/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, buộc bị cáo Nguyễn Thị Hải N phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) 09 (chín) tháng.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo N có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Đ số tiền 7.990.000 (Bảy triệu chín trăm chín mươi nghìn) đồng, cho bà Đặng Thị T số tiền 16.800.000 (Mười sáu triệu tám trăm nghìn) đồng, cho chị Trương Thị Vĩ T1 số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho các bị hại là 44.790.000 (Bốn mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho bà Đặng Thị T 01 (một) túi xách hình vuông bằng da màu nâu đen có 02 (hai) quai xách và 01 (một) ví bằng vải nhiều màu;
- - Trả lại cho chị Trương Thị Vĩ T1 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại Nokia 105, bàn phím màu đen, số seri 352115456285543;
- - Trả lại cho bị cáo 01 sim điện thoại mạng Vinaphone.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2024).
- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 03 đĩa DVD trích xuất từ camera ghi lại sự việc Nguyễn Thị Hải N trộm cắp tài sản được niêm phong trong bì thư của Công an huyện Q.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm 2.239.500 đồng (hai triệu hai trăm ba mươi chín nghìn năm trăm) đồng.
4. Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08-5-2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Loan |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hải Nga phạm tội "Trộm cắp tài sản" với 2 tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần, đối với nhiều người
