Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN I

TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN I, TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Viết Thịnh.

Các hội thẩm nhân dân:

+ Ông: Nay Phen.

+ Bà: Võ Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện I, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện I, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trịnh Thị Nh, sinh năm 1985 tại tỉnh G; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G; Nơi sinh sống: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa ( học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn Tr (đã chết) và bà Lê Thị B, sinh năm 1954; chồng: Lại Tất Đ, sinh năm 1987; có 02 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/9/2018 bị Công an huyện I, tỉnh G xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  2. Phạm Trịnh Quang T, sinh ngày 27/12/2005 tại tỉnh G; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G; Nơi sinh sống: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa ( học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T1, sinh năm 1984 và bà Trịnh Thị Nh, sinh năm 1985; tiền án: không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Rmah Ph, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
  2. Hiao B1, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
  3. Đinh Văn T1, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
  4. Ksor H'K, sinh ngày 02/9/2012; Trú tại: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G. Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ksor H’K: Chị Ksor H’B, sinh năm 1995; trú tại: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh G là mẹ ruột Ksor H’K. Có mặt.

* Người phiên dịch tiếng Ja Rai: Bà Ksor H'Bloan, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn Đăk Chă, xã Ia Mrơn, huyện I, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 04/01/2024, NH và T bắt đầu bán số lô, đề cho các con bạc dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh Bình Định (thường gọi đài Nam) mở thưởng lúc 17 giờ 15 phút, kết thúc lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày. Sau khi bán lô, đề, NH và T tổng hợp nội dung mua bán số lô, số đề cho khách vào 01 tờ phơi đề tổng (được viết vào giấy vở kẻ ô ly học sinh). Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, NH và T đang sử dụng điện thoại IPhone 12, màu trắng để so sánh, tổng hợp kết quả thắng, thua trả tiền cho Ksor H'K và các con bạc chuẩn bị đến nhận tiền thắng cược tại nhà thì bị lực lượng Công an huyện I bắt quả tang. Tang vật thu giữ khi bắt quả tang gồm: Số tiền 3.884.000 đồng, trong đó: số tiền 3.095.000 đồng là tiền bán số lô, số đề ngày 04/01/2024; số tiền 789.000 đồng là tiền bán hàng tạp hóa ngày 04/01/2024; số tiền 25.000.000 đồng thu giữ khi khám xét, được để trong tủ gỗ phòng ngủ của NH; 01 (một) quyển vở ô ly góc trên bên trái có dòng chữ nội dung “Tập học sinh, Thuận Tiến”, bên trong có chữ viết nội dung bắt đầu “Chương I sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh...” và kết thúc "...33.5 38.3 99.2 29.3”, có chữ ký, chữ viết ghi họ tên Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T; 01 (một) tờ giấy ô ly kích thước (3,5x3,3)cm có chữ viết nội dung “4/1 lo: 26.3 07.3" mặt sau giấy có chữ viết, chữ ký ghi họ tên Ksor H'K; 03 (ba) bút bi nhãn hiệu TL-027, mỗi bút dài 14,2cm; 01 (một) hộp nhựa hình hộp chữ nhật kích thước (31x20x16)cm, có nắp đậy màu hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động OPPO A37F màu vàng, đồng; số IMEI 1: 863090038583438, số IMEI 2 863090038583420, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo thẻ sim số 0989.536.317; 01 (một) điện thoại IPhone 12, màu trắng, số máy MGEG3LL/A, số sê ri DNPDN1RKØDXQ, kèm theo thẻ sim số 0327.665.676, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu hồng, số máy MQ8V2LL/A, số sêri FD4XQ8CEJCM4, số IMEI 354837096791568, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo thẻ sim số 097.672.5xxx.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, căn cứ vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định, Trịnh Thị Nh và Phạm Trịnh Quang T đã bán số lô, số đề cho các con bạc, gồm: Rmah Ph mua 01 lô 10 điểm tương ứng với số tiền 130.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì Phianh bị thua cược; Hiao B1 mua 02 lô, mỗi lô 03 điểm, tương ứng với số tiền 78.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì Bong trúng 01 lô tương ứng với số tiền là 210.000 đồng và nhờ con mình là Ksor H’K đến nhà NH để nhận hộ tiền thắng cược thì bị phát hiện quả tang; Đinh Văn T1 sử dụng điện thoại OPPO A83 đăng ký T khoản Zalo tên “Toan” nhắn tin đến T khoản Zalo tên “Giá Hung” của NH là người quản lý và sử dụng mua 02 lô, mỗi lô 30 điểm tương ứng với số tiền 780.000 đồng và 02 lô, mỗi lô 15 điểm tương ứng với số tiền 390.000 đồng, căn cứ kết quả mở thưởng thì Toan bị thua cược và một số người khác NH và T không biết nhân thân, lai lịch. Như vậy, NH và T bán được số lô, đề theo kết quả xổ số của tỉnh Bình Định ngày 04/01/2024 là 27 số lô; 89 số đầu, đuôi, tổng số tiền là 4.457.000 đồng. Trong đó, số tiền thực tế mà NH và T nhận được của người mua số lô, đề là 4.265.000 đồng, còn lại số tiền người mua đề được hưởng hoa hồng 192.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh Bình Định mở thưởng ngày 04/01/2024 thì người chơi trúng 03 số đầu, đuôi với số tiền 1.050.000 đồng; trúng 05 lô tương ứng với số tiền 2.170.000 đồng, tổng cộng số tiền người chơi trúng lô, đề là 3.220.000 đồng. Như vậy, số tiền mà NH và T dùng để đánh bạc theo kết quả xổ số của tỉnh Bình Định ngày 04/01/2024 là 4.457.000 đồng + 3.220.000 đồng = 7.677.000 đồng.

Hình thức đánh bạc được quy định như sau:

Số đề: Gồm 02 số từ 00 đến 99, được chia thành số đề đầu và số đề đuôi. Nếu số đề đầu trùng với hai số giải tám của kết quả xổ số hoặc số đề đuôi trùng với hai số cuối giải đặc biệt của kết quả xổ số thì người đánh bạc thắng được gấp 70 lần số tiền đã mua đề, ngược lại thì mất tiền cược. Khi có người mua số đề thì NH và T sẽ cho người mua tiền hoa hồng (tức là giảm bớt tiền), cứ 10.000 đồng thì sẽ bớt 2.000 đồng. Ví dụ khi người mua số đề đầu và số đề đuôi tổng cộng là 10.000 đồng thì NH và T chỉ nhận từ người mua 8.000 đồng.

Số lô: Gồm 02 số từ 00 đến 99. Người mua số lô sẽ tính bằng điểm, mua một điểm của số lô giá là 13.000 đồng. Nếu số lô mà người mua lô đã mua trùng với hai số giải tám, hoặc hai số cuối của các giải còn lại trong kết quả xổ số thì người đánh bạc thắng được số tiền là 70.000đồng/điểm/lô, ngược lại thì mất tiền cược. Đối với số lô thì NH và T không cho người mua tiền hoa hồng.

Tại Bản kết luận giám định số 95/KL-KLGĐ ngày 12/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh G kết luận:

  • Tại các hàng từ 01 đến 14 mẫu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ viết của Trịnh Thị Nh trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M5) do cùng một người viết ra.
  • Chữ viết trên tờ đánh số 01 mẫu cần giám định (ký hiệu A1) trừ các chữ viết đã kết luận tại mục 1 và chữ viết nội dung “4/1 lo: 26.3 07.3” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ viết của Phạm Trịnh Quang T trên các mẫu cần so sánh (ký hiệu từ M6 đến M9) do cùng một người viết ra.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT – VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện I, tỉnh G truy tố các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T, về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện I, tỉnh G đề nghị:

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trịnh Thị Nh.

Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Trịnh Thị Nh mức án từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Bị cáo Phạm Trịnh Quang T mức án từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trịnh Thị Nh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con còn nhỏ. Bị cáo Phạm Trịnh Quang T đang sống phụ thuộc vào gia đình, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về tang vật vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 4.265.000đ (Bốn triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động OPPO A37F màu vàng, đồng; số IMEI 1: 863090038583438, số IMEI 2 863090038583420, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo thẻ sim số 0989.536.317 của Trịnh Thị Nh; 01 (Một) điện thoại IPhone 12, màu trắng, số máy MGEG3LL/A, số sê ri DNPDN1RKØDXQ, kèm theo thẻ sim số 0327.665.676, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong của Phạm Trịnh Quang T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83, loại có bộ nhớ RAM 4GB, số Imeil: 867572045504396, số Imei2: 867572045504388, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo sim số 0971150265 của Đinh Văn T1.

Tịch thu tiêu hủy: 03 (Ba) bút bi nhãn hiệu TL-027, mỗi bút dài 14,2cm; 01 (một) hộp nhựa hình hộp chữ nhật kích thước (31x20x16)cm, có nắp đậy màu hồng, đã qua sử dụng.

Trả lại cho Trịnh Thị Nh số tiền 25.789.000 đồng; trong đó: 789.000 đồng là tiền bán hàng tạp hóa ngày 04/01/2024 và 25.000.000 đồng thu giữ khi khám xét, được để trong tủ gỗ phòng ngủ của Trịnh Thị Nh; 01 (Một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu hồng, số máy MQ8V2LL/A, số sêri FD4XQ8CEJCM4, số IMEI 354837096791568, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo thẻ sim số 097.672.5xxx của Trịnh Thị Nh.

Ý kiến của các bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; Bị cáo Trịnh Thị Nh đề nghị được nhận lại số tiền 789.000 đồng là tiền bán hàng tạp hóa ngày 04/01/2024 và số tiền 25.000.000 đồng thu giữ khi khám xét, được để trong tủ gỗ phòng ngủ của Trịnh Thị Nh; 01 (Một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu hồng, số máy MQ8V2LL/A, số sêri FD4XQ8CEJCM4, số IMEI 354837096791568, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo thẻ sim số 097.672.5xxx.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024 các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề được tổng cộng 27 số lô; 89 số đề đầu, đuôi với tổng số tiền là 4.457.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh Bình Định mở thưởng ngày 04/01/2024 thì người chơi trúng 03 số đầu, đuôi với số tiền 1.050.000 đồng; trúng 05 lô tương ứng với số tiền 2.170.000 đồng, tổng cộng số tiền người chơi trúng lô, đề là 3.220.000 đồng. Hành vi ghi bán số lô, số đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bình Định của Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T vào ngày 04/01/2024 bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng nên Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T phải chịu trách hình sự về hành vi đánh bạc với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.457.000 đồng + 3.220.000 đồng = 7.677.000 đồng.

Như vậy hành vi của các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Hành vi đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng và sự quản lý của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo biết rằng việc đánh bạc ăn thua bằng tiền, hiện vật là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân các bị cáo đã vi phạm. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dễ gây ra các hậu quả nghiêm trọng khác, gây tác hại cho xã hội về nhiều mặt. Vì vậy, các bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hành vi của các bị cáo gây ra.

Ở vụ án này mặc dù các bị cáo cố ý thực hiện một tội phạm. Song đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo như sau:

Đối với bị cáo Trịnh Thị Nh là người trực tiếp đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua bằng tiền và cùng với Phạm Trịnh Quang T tổng hợp số lô, số đề thắng thua bằng tiền và chung tiền cho các con bạc, tổng số tiền Trịnh Thị Nh sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.677.000 đồng.

Đối với bị cáo Phạm Trịnh Quang T khi thấy Trịnh Thị Nh đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề ăn thua bằng tiền thì tự nguyện cùng tham gia ghi số lô, số đề khi Trịnh Thị Nh bận bán hàng, đi vắng và tổng hợp tất cả các số lô, số đề mà NH và T đã bán được trong ngày. tổng số tiền Phạm Trịnh Quang T sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.677.000 đồng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Trịnh Thị Nh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con còn nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã thể hiện sự ăn năn, hối cải của mình và để cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Ngoài ra trong vụ án này còn có Rmah Ph, Hiao B1 và Đinh Văn T1 là những người tham gia đánh bạc với các bị cáo Trịnh Thị Nh và Phạm Trịnh Quang T. Tuy nhiên số tiền của từng người sử dụng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng và đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Công an huyện I đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Rmah Ph, Hiao B1 và Đinh Văn T1 là đúng quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Đối với Ksor H’K được Hiao B1 nhờ đi nhận tiền thắng cược. Khi được nhờ thì H’Kim không biết đó là tiền đánh bạc, thời điểm vi phạm Ksor H’K mới 12 tuổi. Do đó, không có cơ sở để xử lý.

Đối với đối tượng Ma Nguyệt và một số người khác mà Trịnh Thị Nh và Phạm Trịnh Quang T khai nhận có mua số lô, số đề từ NH và T vào ngày 04/01/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I đã thực hiện các biện pháp điều tra nhưng không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[2] Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tội danh, điều, khoản áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả Nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về ý kiến của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện I, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện I, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trịnh Thị Nh.

Xử phạt:

Bị cáo Trịnh Thị Nh 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 30/7/2024.

Bị cáo Phạm Trịnh Quang T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 30/7/2024.

Giao các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện I, tỉnh G và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 4.265.000đ (Bốn triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động OPPO A37F màu vàng, đồng; số IMEI 1: 863090038583438, số IMEI 2 863090038583420, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo thẻ sim số 0989.536.317 của Trịnh hị NH; 01 (Một) điện thoại IPhone 12, màu trắng, số máy MGEG3LL/A, số sê ri DNPDN1RKØDXQ, kèm theo thẻ sim số 0327.665.676, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong của Phạm Trịnh Quang T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83, loại có bộ nhớ RAM 4GB, số Imeil: 867572045504396, số Imei2: 867572045504388, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo sim số 0971150265 của Đinh Văn T1.

Tịch thu tiêu hủy: 03 (Ba) bút bi nhãn hiệu TL-027, mỗi bút dài 14,2cm; 01 (một) hộp nhựa hình hộp chữ nhật kích thước (31x20x16)cm, có nắp đậy màu hồng, đã qua sử dụng

Trả lại cho Trịnh Thị Nh số tiền 25.789.000 đồng; trong đó: 789.000 đồng là tiền bán hàng tạp hóa ngày 04/01/2024, 25.000.000 đồng thu giữ khi khám xét, được để trong tủ gỗ phòng ngủ của Trịnh Thị Nh; 01 (Một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu hồng, số máy MQ8V2LL/A, số sêri FD4XQ8CEJCM4, số IMEI 354837096791568, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, kèm theo thẻ sim số 097.672.5xxx của Trịnh Thị Nh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024 giữa Công an huyện I và Chi cục thi hành án dân sự huyện I; biên bản giao nhận T sản ngày 14/6/2024 giữa Công an huyện I và Kho bạc nhà nước huyện I).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 30/7/2024). Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo/ những người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh G; Cấp cao
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện I;
  • - Công an huyện I;
  • - Chi cục THADS huyện I;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Viết Thịnh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN I, TỈNH G về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN I, TỈNH G
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Nh, Phạm Trịnh Quang T “Đánh bạc”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger