Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày 22 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Hòa Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thùy Trang, bà Cù Thị Ngọc Thảo

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 74/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn L, sinh năm 1993, tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp C,xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Bích L1; vợ là Trần Thị Kim M (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú tử ngày 05/8/2024 cho đến nay(có mặt).
  2. Phạm Thị Kim C, sinh năm 1994, tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật ; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Phạm Văn M1 và bà Trần Thị Ú; chồng là Hồ Văn G (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú tử ngày 05/8/2024 cho đến nay(có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Kim M, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Tổ A, ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Bích L1, ông Phan Thành T1, ông Võ Văn M2, ông Lê Văn C1, ông Phạm Thái D, ông Phạm Văn T2, bà Bùi Thị T3 (vắng mặt).

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn L và Trần Thị Kim M là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 88 ngày 05 tháng 07 năm 2018), sinh sống tại ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, có 02 con chung là Trần Hoàng K, sinh ngày 21/12/2010 và Trần Hoàng K1, sinh ngày 19/12/2017. Trong thời gian sống chung với vợ, ngày 17/11/2023, Trần Văn L quen biết, nảy sinh tình cảm yêu thương nam nữ với Phạm Thị Kim C. Khi này, C biết rõ L đang có vợ, con, nhưng vẫn đồng ý sống chung như vợ chồng với L tại nhà của C thuộc ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang.

Đến khoảng tháng 03 năm 2024, C và em ruột là Phạm Thái D xảy ra mâu thuẫn nên L đưa C về nhà của L (ngụ ấp C, xã V, thị xã T), tiếp tục sống chung như vợ chồng và ở cùng nhà với Trần Thị Bích L2, Trần Thị Bạch T4 (mẹ, chị ruột của L), M và 02 con chung. Đến ngày 12/4/2024, do bức xúc việc L công khai sống chung như vợ, chồng với Kim C nên M có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với Trần Văn L và được Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu công nhận thuận tình ly hôn theo Quyết định số 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2024.

Ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, khởi tố Trần Văn L và Phạm Thị Kim C, về tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng”.

Kết quả xác minh ngày 30/7/2024 tại Ban N, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang về quá trình sinh sống của Trần Văn L và Phạm Thị Kim C nội dung: Khoảng tháng 02 năm 2024, Phạm Thị Kim C có dẫn một người nam tên L nhà ở V về nhà tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang để sống chung như vợ chồng. Sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, cải nhau với em ruột là Phạm Thái D nên C theo L về nhà ở xã V với L.

Kết quả xác minh ngày 30/7/2024 tại Ban N1, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang về quá trình sinh sống của Trần Văn L và Phạm Thị Kim C nội dung: Khoảng tháng 03 năm 2024, Trần Văn L vẫn còn là vợ chồng với Trần Thị Kim M nhưng L dẫn Phạm Thị Kim C về nhà sống chung với mẹ Trần Thị Bích L2, vợ Trần Thị Kim M và hai con chung K, K1. Do nhiều lần xảy ra mâu thuẫn giữa M và gia đình L nên M đã gửi đơn đến tòa án để yêu cầu ly hôn. Hiện nay Mai và L đã có quyết định ly hôn, M về nhà cha ruột tại ấp B để sinh sống, còn L sống chung với C tại nhà L.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Trần Văn L và Trần Thị Kim M tại UBND xã V xác định: Trần Văn L và Trần Thị Kim M được UBND xã V cấp giấy

3

chứng nhận đăng ký kết hôn số 88 ngày 05/07/2018. Đến ngày 15/05/2024, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu có quyết định số 59/2024/QĐST-HNGĐ về việc công nhận thuận tình ly hôn của Trần Văn L và Trần Thị Kim M. Hiện nay, L và M chưa đăng ký kết hôn với ai.

Căn cứ Công văn số 51/UBND-HT ngày 12/07/2024 của UBND xã P xác định tình trạng hôn nhân của Phạm Thị Kim C như sau: Ngày 06/05/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P theo giấy chứng nhận kết hôn số 26/2015 nhưng đã ly hôn theo quyết định số 145/2017/HNGĐ-ST ngày 26/05/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ngày 18/01/2024, Phạm Thị Kim C có yêu cầu và được UBND xã P cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 02/UBND-XNTTHN ngày 18/01/2024 với mục đích bổ sung hồ sơ đăng ký kết hôn với Trần Văn L, sinh ngày 22/02/1993.

Lời khai các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 66/CT-VKSTC ngày 29/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố Trần Văn L, Phạm Thị Kim C, về tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự;

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C, khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Lý do thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và ân hận với lỗi lầm mà mình đã gây ra.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 182 ; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn L mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo thời gian thử thách 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm; Bị cáo Phạm Thị Kim C mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng tù. Giao các bị cáo L, C cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục.

Trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim M không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Tại phiên tòa, người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  2. Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có cơ sở xác định:

    Phạm Thị Kim C biết rõ Trần Văn L là người đang có vợ hợp pháp là Trần Thị Kim M, có 02 con chung với M, nhưng từ tháng 3 năm 2024, L, C đã công khai sống chung như vợ, chồng tại ấp C, xã V, thị xã T. Hậu quả, làm cho quan hệ hôn nhân của Trần Văn L và Trần Thị Kim M ly hôn, hành vi của các bị cáo L, C đã phạm tội “ Vi phạm chế độ một vợ một chồng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, hành vi phạm tội của các bị cáo còn thể hiện thái độ xem thường pháp luật, coi thường đạo đức xã hội Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung..
  4. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, các bị cáo ý thức được việc sống chung với nhau như vợ chồng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện điều đó chứng tỏ các bị cáo là người rất coi thường pháp luật, hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ của các bị cáo là muốn sống chung để thỏa mãn nhu cầu của bản thân

5

xem thường đạo đức xã hội đây là nguyên nhân làm phá hoại hạnh phúc gia đình vẫn đến gây bất bình và phẫn nộ trong nhân dân ảnh hưởng đến ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Trong vụ án này các bị cáo L, C cùng thực hiện hành vi phạm tội không có đồng phạm, các bị cáo phải chịu trách nhiệm do hậu quả của mình gây ra, tuy nhiên xét bị cáo L là người đã có vợ con, bị cáo phải ý thức được trách nhiệm đối với gia đình là phải sống chung thủy một vợ, một chồng chăm lo để có một gia đình hạnh phúc, tuy nhiên bị cáo không làm như thế mà lại sống chung với bị cáo C dẫn đến phải ly hôn với vợ làm phá hoại hạnh phúc gia đình của chính bị cáo và dẫn đến nhiều hệ lụy khác, do đó mức hình phạt áp dụng cho bị cáo nghiêm khác hơn so với bị cáo C mới đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, tuy nhiên xét các bị cáo L, C có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự có 02 tình tiêt giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS, tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim M xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 65 BLHS cho các bị cáo L, C được hưởng án treo cũng đủ đảm bảo tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngửa chung cho xã hội, giao các bị cáo L, C cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục. Trong trường hợp các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự

  1. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim M không yêu cầu bồi thường hay bồi hoàn thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C phạm tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 182; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

6

Xử phạt:

  • - Bị cáo Trần Văn L 09 (chín) thàng tù, nhưng cho bị cáo được hưởn án treo. Thời gian thử thách 01(một) năm 06(sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 22/11/2024.
  • Giao bị cáo Trần Văn L cho UBND xã V, thị xả T, tỉnh An Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát giáo dục.
  • - Bị cáo Phạm Thị Kim C 06(Sáu) thàng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách 01(một) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 22/11/2024.
  • Giao bị cáo Phạm Thị Kim C cho UBND xã P, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát giáo dục.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo, các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Nếu trong trường hợp các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự
  • Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim M không yêu cầu bồi thường hay bồi hoàn thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Trần Văn L, Phạm Thị Kim C mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND thị xã Tân Châu;
  • - Nhà Tạm giữ;
  • - Cơ quan THAHS - CATXTC
  • - Chi cục THADS thị xã Tân Châu;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND nơi BC cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Hòa Bình

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về vi phạm chế độ một vợ, một chồng

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm chế độ một vợ, một chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 11 ngày 22/11/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger