Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày 05 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Xuân.
Ông Nguyễn Ngọc Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang với Đ cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 08/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với.

- Bị cáo: Nguyễn Văn Đ1; sinh năm 1999; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm 1978 và con bà: Mã Thị H, sinh năm 1980 (đã chết); có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/4/ 20021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C; tạm giữ: ngày 16/02/2024; tạm giam: Ngày 25/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Ngọc M - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N; sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị L - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).

- Những người làm chứng: Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1991 (vắng mặt); anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1996 (vắng mặt); anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1990 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 15/02/2024 Nguyễn Văn M2 gọi điện thoại mời Nguyễn Văn Đ1 lên nhà ăn cơm, uống rượu, Đ1 đồng ý đi bộ lên nhà M2. Tại nhà M2 có những người cùng ăn cơm, uống rượu gồm: Nguyễn Văn M2, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn M3 là người cùng thôn, đến 19 giờ cùng ngày M2 nghỉ trước, còn Đ2, K, M3 và Đ1 tiếp tục uống rượu khoảng 05 phút sau Đ2 rủ K, M3 và Đ1 lên nhà mình uống rượu, sau đó Đ2 cùng K đi bộ lên nhà Đ2 uống rượu với nhau trước còn Đ1 ngồi uống rượu tại nhà M2.

Đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày Đ1 đi bộ một mình lên nhà Đ2 uống rượu khoảng 04 đến 05 ly nữa xong đi bộ về nhà, khi đến gần nhà bà Nguyễn Thị N (người cùng thôn) khoảng 21 giờ cùng ngày Đ1 dừng lại lấy điện thoại của mình kết nối W để xem phim thì Đ1 nhìn thấy bà N đang xách xô cám lợn trong nhà đi bộ theo hiên nhà cho lợn ăn, do đã uống rượu không kìm chế được bản thân Đ1 nảy sinh ý định hiếp dâm bà N đồng thời dùng tay phải cởi sẵn cúc quần dài của mình, kéo séc quần xuống, sau khi bà N cho lợn ăn xong xách xô cám lợn đi bộ về đến khu vực hiên nhà gần cửa chính thì Đ1 tiến đến dùng hai tay ôm bà N từ phía sau, bà N giật mình kêu lên và làm rơi xô cám lợn xuống nền xi măng, Đ1 tiếp tục giằng co, kéo bà N đến khu vực rãnh thoát nước, tiếp tục dùng hai tay ôm người bà N và quật bà N ngã xuống đất ở tư thế nằm ngửa và nằm đè lên người bà N đồng thời dùng hai tay bóp cổ, dùng đầu gối trái đè lên vùng bụng bà N, lúc này dương vật Đ1 đang cương cứng, Đ1 dùng tay trái kéo quần dài của bà N xuống đến gần đầu gối, sau đó tiếp tục kéo quần lót của bà N đến giữa đùi thì bà N dùng tay phải giữ một bên quần lót mục đích không cho Đ1 kéo quần lót xuống, Đ1 dùng tay trái kéo chiếc quần dài của mình xuống đến đầu gối thực hiện hành vi giao cấu với bà N, do bà N vũng vẫy kêu cứu và dùng hai chân đạp vào vùng bả vai trái của Đ1 bị bật ra ngã xuống rãnh thoát nước, sau đó bà N đứng dậy chạy kêu cứu, thấy vậy anh Nguyễn Văn K1 cùng thôn đi ra can ngăn nên Đ1 đi về nhà mình.

Đến sáng ngày 16/02/2024 bà Nguyễn Thị N đến Công an xã P trình bào về việc bị Nguyễn Văn Đ1 thực hiện hành vi Hiếp dâm vào đêm 15/02/2024 đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, thu thập các tài liệu liên quan xét thấy bị hại Nguyễn Thị N là người khuyết tật; dạng khuyết tật: Vận Động; mức độ khuyết tật: Đặc biệt nặng (theo Giấy xác nhận khuyết tật ngày 15/10/2022 của UBND xã P, huyện B).

Ngày 17/02/2024 và ngày 06/03/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành xác định hiện trường, thực nghiệm điều tra kết quả Nguyễn Văn Đ1 mô tả, chỉ dẫn vị trí phù hợp với vị trí bị hại mô tả, phù hợp với vị trí người làm chứng mô tả.

Tang vật vụ án:

Trong quá trình điều tra thu giữ, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng.

  • - Trả cho bị hại Nguyễn Thị N gồm: 01 áo khoác vải màu trắng hồng, mặt trước có chữ “CIAGEBLTR”, mặt sau áo có chữ “ LEPAIHOMME; 1956 LEPAI”; 01 quần vải ống dài, dạng chun màu đen; 01 mũ len màu hồng và 01 đôi dép nhựa màu xanh (đã qua sử dụng).
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ1 gồm: 01 áo bò dài tay màu xám, đuôi áo mặt trước bên trái có chữ “LVEI'S”; 01 quần bò ống dài, màu xám; 01 áo phông màu xanh tay áo màu đen trước ngực áo có chữ “ETYHAD”; 01 quần sịp màu đen, cạp quần có chữ Reebok; 01 mũ lưỡi chai màu trắng, cánh mũ bên trái có đính 03 vòng kim loại (đã qua sử dụng).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị N không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Đ1 bồi thường.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSBM ngày 08/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ1, về tội Hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội Hiếp dâm.
  • - Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 141, Điều 38, điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 16/02/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng: Không.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ1: Đồng tình quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu, gia đình thuộc hộ nghèo, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn thái độ thành khẩn khai báo trung thực, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội “Hiếp dâm”; về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 141, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 50; Điều 57 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 24 tháng tù; về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý, không bổ sung thêm gì.

Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại: Đồng tình quan điểm Viện kiểm sát buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Đ1 trong vụ án này, nhằm trừng trị nghiêm khắc những người có hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của con người và ngăn chặn, răn đe, giáo dục, phòng ngừa đối với những người có ý định phạm tội, đặc biệt là đối với người khuyết tật, hạn chế về khả năng bảo vệ bản thân thì cần đưa ra một mức án nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm k khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 từ 24 tháng đến 26 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường do vậy đề nghị không xem xét.

Đại diện bị hại nhất trí quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý, không bổ sung thêm gì.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng: Nguyễn Thị M1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn K1. Xét thấy bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại. Không khiếu nại quyết định hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 15/02/2024, tại khu vực hiên nhà bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Đ1 người cùng thôn đã có hành vi dùng vũ lực vật, xô ngã và dùng tay bóp cổ, kéo quần bà Nguyễn Thị N để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với bà N nhưng do bà N chống cự quyết liệt nên Đ1 chưa thực hiện được hành vi giao cấu đến cùng để thoả mãn dục vọng là nằm ngoài mục đích của Đ1. Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Điều 141 Bộ luật Hình sự quy định

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc làm của mình. Hành vi phạm tội bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm bị hại được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Do đó, cần cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với người khuyết tật dạng vận động đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng từ tháng 11/2022 đến nay, mức độ khuyết tật đặc biệt nặng, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phạm tội lần này chưa giao cấu được với bị hại là do bị hại phản kháng quyết liệt nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Đây là các căn cứ để quyết định hình phạt cho bị cáo quy định tại Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là người dân tộc thiểu số hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

[6] Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử, xét thấy cần tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT thu giữ một số tài sản của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Từ những căn cứ trên đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ được chấp nhận.

[10] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo và người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo.

[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội Hiếp dâm.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 141; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k, khoản 1 Điều 52; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
  4. Về vật chứng: Không.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Bị cáo; bị hại; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; bị hại; Người bào chữa;
  • - Người BVQ & lợi ích hợp pháp bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Dương Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về hình sự (hiếp dâm)

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hiếp dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đông xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger