Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG XUÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HSST

Ngày 04/6/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh.

Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trình Ngọc T - Kiểm sát viên.

Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà trực tuyến công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quốc N (Tên gọi khác: B, T1),

Sinh ngày 12 tháng 02 năm 1991 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 3/12; con ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; có vợ tên Nguyễn Thị Kiều T3, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và có 02 con sinh năm 2019 và năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 28/3/2011, bị Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn- tỉnh Bình Định xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 17/3/2015, bị Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn- tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Bị cáo có mặt ở điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

2. Huỳnh P (Tên gọi khác: Phúc B),

Sinh ngày 09 tháng 9 năm 1994 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Huỳnh Công P1 (chết) và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1970; có vợ tên Phan Thị Mỹ L1, sinh năm 1998 và có 01 con sinh năm 2020; tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 25/9/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 24/11/2023.

- Nhân thân: Ngày 20/8/2013, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; Ngày 25/9/2013, bị Toà án nhân dân huyện Tuy Phước- tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích; Ngày 21/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Vân Canh- tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Bị cáo có mặt ở điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

* Người bị hại: Nguyễn Thị C – Sinh năm: 1971; Trú tại: Kp L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Đoàn Anh H – Sinh năm: 1997; Trú tại: Khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
  • - Đào Duy T4 – Sinh năm: 1981; Trú tại: Tổ B, Khu phố D, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
  • - Nguyễn Thành T5 – Sinh năm: 1988; Trú tại: Tổ E, Khu V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h00' ngày 17/01/2024, Nguyễn Quốc N điều khiển xe mô tô BKS: 77X8 – 3602 chở Huỳnh P từ thành phố Q- tỉnh Bình Định đến huyện Đ- tỉnh Phú Yên để mua cây keo. Đến khoảng 13h30' cùng ngày, khi đến đường N thuộc khu phố L- thị trấn L- huyện Đ, thấy xe mô tô BKS: 78K1 - 186.94 của chị Nguyễn Thị C đang dựng trên vỉa hè, chìa khóa xe đang cắm trong ổ khóa nên N và P thống nhất cùng nhau lấy trộm chiếc xe này để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Lúc này, P đi đến vị trí xe của chị C khởi động và điều khiển xe tẩu thoát về hướng thị xã S, còn N điều khiển xe BKS: 77X8 – 3602 chạy theo phía sau. Khi đến địa phận xã X- huyện Đ, cả hai dừng xe lại mở cốp xe mô tô BKS: 78K1 - 186.94 ra kiểm tra. N lấy toàn bộ giấy tờ xe bỏ vào túi quần rồi trực tiếp điều khiển chiếc xe này, còn P điều khiển xe mô tô BKS: 77X8 - 3602 đi về nhà của N ở Tổ A- khu vực 2- phường B- thành phố Q- tỉnh Bình Định. Tại đây, N đưa những giấy tờ lấy được trong cốp xe mô tô BKS: 78K1 - 186.94 cho P đốt và N dắt xe mô tô này vào nhà cất giấu.

Khoảng 15h00' ngày 18/01/2024, N và P thỏa thuận, N sẽ lấy chiếc xe trộm cắp được để sử dụng và đưa cho P 2.000.000 đồng. Đến ngày 19/01/2024, N dùng tua vít và búa sắt đục phá số khung, số máy và tháo BKS: 78K1- 186.94 ném xuống sông để phi tang. Sau đó, Nam lấy BKS: 77L1- 457.46 (do N đặt mua trên mạng xã hội facebook) gắn vào xe mô tô đã trộm cắp được và sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 19h30' ngày 22/01/2024, N điều khiển chiếc xe trộm cắp được đến nhà của anh Đoàn A Hiệp ở khu vực 2- phường B- thành phố Q cầm cố lấy số tiền 3.500.000 đồng. (BL 01-09, 108- 283)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐGTTHS ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Đ (BL 114), kết luận: Xe mô tô BKS: 78K1 - 186.94 trị giá 11.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKSĐX ngày 09/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc Nam, Huỳnh Phúc về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Kết luận các bị cáo Nguyễn Quốc N, Huỳnh P phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với các bị cáo Nguyễn Quốc N, Huỳnh P; bị cáo P bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt: Nguyễn Quốc N, Huỳnh P mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại theo yêu cầu của người bị hại. Tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác, nên đề nghị HĐXX không xét giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • + Tịch thu tiêu hủy: vật chứng, công cụ phạm tội, vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng.
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, màu đen, hiệu Sam Sung (của bị cáo N); Số tiền thu lợi bất chính của các bị cá o 5.500.000đ (trong đó bị cáo N nộp 3.500.000đ, bị cáo P nộp 2.000.000₫); 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter, màu xanh đậm, biển số 77X8-3602, có số máy 5B94-022164, số khung: 9408Y-022164; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô biển số 77X8-3602; 01 giấy đăng ký xe mang tên Lê Thanh D –SN: 1971, trú tại: Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng. Các bị cáo xin lỗi người bị hại, xin Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đến mức thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, làm người có ích cho xã hội. Tại cơ quan điều tra, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, anh Đoàn A H không yêu cầu bị cáo N phải trả lại số tiền 3.500.00₫ đã nhận thế chấp xe mô tô mà các bị cáo trộm cắp.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 BLTTHS.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13h30' ngày 17/01/2024, tại khu phố L - thị trấn L - huyện Đ, Nguyễn Quốc N và Huỳnh P đã có hành vi lấy trộm chiếc xe mô tô BKS 78K1-186.94 trị giá 11.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị C. Đến khoảng 19h30' ngày 22/01/2024, bị cáo N cầm cố chiếc xe trộm cắp được cho anh Đoàn A H với giá 3.500.000 đồng, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc N, Huỳnh P về tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự, an toàn công cộng và an toàn xã hội, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân ở địa phương. Do đó, đối với các bị cáo cần phải xét xử với mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Quốc N là người rủ rê, khởi xướng. Xét vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhận thấy:

[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Quốc N: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội này thì trước đó bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê, cảnh giới, điều khiển xe mô tô chở bị cáo Huỳnh P đến huyện Đ để thực hiện việc trộm cắp. Sau khi trộm cắp được thì dùng búa sắt đục, phá hỏng số khung, số máy của xe mô tô, đồng thời gắn biển số giả sử dụng làm phương tiện đi lại, sau đó đem chiếc xe mô tô thế chấp cho người khác lấy tiền tiêu xài. Do đó, đối với bị cáo, cần phải xét xử với mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm; mức án đối với bị cáo phải cao hơn so với bị cáo P trong cùng vụ án. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường 500.000đ, tác động gia đình bồi thường số tiền 4.500.000đ cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, nên xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo hiện bị tạm giam, không có thu nhập, nên xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3.2] Đối với bị cáo Huỳnh P: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội này thì trước đó bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Ngày 29/5/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 04 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Trong vụ án này, bị cáo là người trực tiếp thực hiện việc trộm cắp và điều khiển xe mô tô đã trộm cắp được để tẩu thoát, nên cũng cần xét xử một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền 5.000.000đ cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, nên xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt và xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo hiện bị tạm giam, không có thu nhập nên xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đoàn Anh H: Khi cầm cố chiếc xe của chị C, N nói với H chiếc xe này là của N vì cần tiền nên cầm cố vài ngày sẽ chuộc lại. Bản thân H khi nhận cầm cố không biết chiếc xe này là tài sản do trộm cắp mà có nên không vi phạm pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại theo yêu cầu. Tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác, nên HĐXX không xét giải quyết. Ngoài số tiền người bị hại đã nhận thì người bị hại được nhận số tiền 500.000₫ (số tiền bị cáo N bồi thường cho bị hại) tại Ủy nhiệm chi số 06 lập ngày 15/5/2024 của Công an huyện Đ nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) Tua vít bằng kim loại dài 34cm; 01 (một) cái búa bằng kim loại màu xám, dài 26,5cm; 01 (một) vỏ chai nhựa trong suốt; 01 (một) áo khoác vải dài tay màu xám, viền đen, dạng kéo Phéc Mơ Tuya, có gắn nhãn “FASHION 3.RUE CAMBON PARIS”; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 01 (một) đôi dép giả da màu đen, có 01 quai dạng ngang, kích thước (27x7x4)cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, trên đỉnh mũ có sọc trắng-xanh; 01 (một) đôi dép giả da, quai chéo màu đen; 01 (một) cái áo khoác dài tay, vải dù màu đen; 01 (một) cái quần dài vải Jean màu đen, không nhãn hiệu; 01 (một) Biển số xe mô tô 77L1 - 457.46, là những công cụ phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng và vật cấm lưu hành, nên HĐXX chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
  • + 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, hiệu Sam Sung (của bị cáo N); số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo 5.500.000đ (trong đó bị cáo N giao nộp 3.500.000đ, bị cáo P nộp 2.000.000₫); 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter, màu xanh đậm, biển số 77X8-3602, có số máy 5B94-022164, số khung: 9408Y-022164; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô biển số 77X8-3602; 01 (một) giấy đăng ký xe mang tên Lê Thanh D –SN: 1971, trú tại: Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (Xe này thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Quốc N), là công cụ, phương tiện phạm tội và tiền thu lợi bất chính của các bị cáo có được từ việc cầm cố tài sản trộm cắp, nên HĐXX chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 BLHS và điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc N, Huỳnh P phạm tội: "Trộm cắp tài sản”.

  1. Về hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Quốc N. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Huỳnh P. Xử phạt bị cáo Huỳnh P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị C được nhận số tiền 500.000₫ (số tiền bị cáo N bồi thường cho bị hại) tại Ủy nhiệm chi số 06 lập ngày 15/5/2024 của Công an huyện Đ nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Tua vít bằng kim loại dài 34cm; 01 (một) cái búa bằng kim loại màu xám, dài 26,5cm; 01 (một) vỏ chai nhựa trong suốt; 01 (một) áo khoác vải dài tay màu xám, viền đen, dạng kéo Phéc Mơ Tuya, có gắn nhãn “FASHION 3.RUE CAMBON PARIS”; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 01 (một) đôi dép giả da màu đen, có 01 quai dạng ngang, kích thước (27x7x4)cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, trên đỉnh mũ có sọc trắng-xanh; 01 (một) đôi dép giả da, quai chéo màu đen; 01 (một) cái áo khoác dài tay, vải dù màu đen; 01 (một) cái quần dài vải Jean màu đen, không nhãn hiệu; 01 (một) Biển số xe mô tô 77L1 - 457.46.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, màu đen, hiệu Sam Sung (của bị cáo N); số tiền thu lợi bất chính của các bị cá o 5.500.000đ(năm triệu, năm trăm nghìn đồng), trong đó bị cáo N giao nộp 3.500.000₫ (ba triệu, năm trăm nghìn đồng), bị cáo P nộp 2.000.000đ(hai triệu đồng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter, màu xanh đậm, biển số 77X8-3602, có số máy 5B94-022164, số khung: 9408Y-022164; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô biển số 77X8-3602; 01 (một) giấy đăng ký xe mang tên Lê Thanh D, Sinh năm: 1971, trú tại: Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (Xe này thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Quốc N).

    (Số tiền theo biên lai thu tiền số 0000654 ngày 04/6/2024 của Chi cục THADS huyện Đ và Ủy nhiệm chi số 06 ngày 15/5/2024 do Công an huyện Đ nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân. Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục THADS huyện Đ).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Quốc N, Huỳnh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên (P.KT-NV);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - CC THADS huyện Đ;
  • - Những người tham gia tố tụng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Vĩnh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HSST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 11/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger