|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày: 02/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: ông Hoàng Hải Long - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đặng Văn P - Sinh ngày: 17/01/1994, tại Ninh Thuận, Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đặng Văn T, sinh năm 1968; Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971; Vợ: Ngô Phương N, sinh năm 1995, có 01 người con sinh năm 2018.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Đặng Văn P hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Văn M - Sinh ngày: 15/7/2003, tại Ninh Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phạm Văn Q, sinh năm 1972; Mẹ: Trần Thị Thu T2, sinh năm 1975; Vợ, con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Phạm Văn M hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Công H (Chim) - Sinh ngày: 02/02/1989, tại Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn N1, sinh năm 1944; Mẹ: Đinh Thị Đ, sinh năm 1951; Chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: ngày 15/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 24/2016/HSST ngày 15/6/2016 (đã chấp hành xong); ngày 21/01/2016 bị Công an thành phố P – T xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong).
Bị cáo Nguyễn Công H hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Công ty Cổ phần X Cả.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Quang H1 – Sinh năm 1976; Địa chỉ: 3 ngách A, đường T, thị trấn V, huyện T, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Trần Nguyên H2 – Sinh năm: 1998; địa chỉ: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Thanh H3 – Sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt;
- - Bà Vũ Thị L – Sinh năm: 1987; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt;
- - Bà Phạm Thị Trường T3 – Sinh năm: 1989; địa chỉ: thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt;
- - ông Đặng Văn T – Sinh năm: 1968; địa chỉ: P, P, N, Ninh Thuận – Có mặt;
- - Bà Phạm Thị Thu N2 – Sinh năm: 1993; địa chỉ: thôn T, xã P, N, Ninh Thuận – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần Đ1 phụ trách thi công tuyến cao tốc Bắc – Nam đoạn qua thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Vào tháng 10/2023 phát hiện khu vực đang thi công bị mất một số tài sản gồm: 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước ((743+250)x190x30)mm, 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại, có kích thước ((793+250)x190x30)mm và 10 thanh sắt chữ V. Ngày 14 và ngày 15/10/2023 Công ty Cổ phần Đ1 đã trình báo Công an xã P để được giải quyết. Quá trình giải quyết tin báo tố giác tội phạm, đến ngày 28/11/2023 Đặng Văn P, Nguyễn Văn M1 đến Công an xã P đầu thú, ngày 06/12/2023 Nguyễn Công H đến Công an huyện N đầu thú về hành trộm cắp tài sản của Công ty Cổ phần Đ1. Tại cơ quan Điều tra Đặng Văn P, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Công H đã khai nhận và cơ quan Điều tra Công an huyện N đã chứng minh được hành vi chiếm đoạt tài sản trên công trường đang thi công thuộc thôn P, xã P, huyện N của Công ty Cổ phần Đ1 cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: khoảng 12 giờ trưa ngày 13/10/2023 P rủ M1 đến công trình thi công cao tốc tuyến C - V để trộm cắp tài sản thì M1 đồng ý. Khi đi, P điều khiển xe mô tô biển số 55Y3-0254 chở M1 đến công trình cầu vượt 708 thì thấy có nhiều tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại nên cả hai cùng nhau trộm cắp được 02 tấm khe co giãn răng lược, kích thước ((743 + 250)x190x 30)) mm. Sau đó, P chở M1 ngồi sau giữ tấm khe co giãn chở đi bán cho bà Phạm Thị T4 Thoa được 580.000 đồng rồi tiêu dùng hết.
Vụ thứ hai: khoảng 19 giờ ngày 13/10/2023 P, M1 và H gặp nhau tại ngôi nhà hoang gần nhà H, tại đây P rủ M1 và H tiếp tục đi đến công trình cầu vượt 708 để trộm cắp tài sản thì cả hai đồng ý. Khi đi, P chở M1 bằng xe mô tô biển số 55Y3-0254, còn H đi một mình bằng xe mô tô biển số 85D1-287.98. Khi đến nơi, cả ba người cùng nhau trộm cắp 02 tấm khe co giãn răng lược kích thước ((793 + 250)x190x30)) mm để lên xe mô tô 55Y3-0254 do P cầm lái chở M1 ngồi sau giữ tấm khe co giãn mang tới tiệm thu mua phế liệu bán cho vợ chồng bà Vũ Thị L và ông Nguyễn Thanh H3. Hiệu đi một mình về nhà, khi đi về thấy có nhiều thanh kim loại hình chữ V thì H tiếp tục trộm cắp được 10 thanh kim loại hình chữ V, kích thước (50x50x3)mm, dài 02m đem đi cất giấu tại vườn táo dưới chân cầu vượt G và đi về ngôi nhà hoang để tập hợp với P và M1. Hiệu kể cho P và M1 nghe việc H trộm cắp và đang cất giấu 10 thanh kim loại hình chữ V thì P nói để mai lấy bán, còn M1 không nói gì sau đó ba người đi về.
Vụ thứ 3: Buổi chiều ngày 14/10/2023, H và P đi lên vườn táo để lấy 10 thanh kim loại hình chữ V mà H đã trộm cắp, cất giấu vào tối 13/10/2023 nhưng khi đến vườn táo thì không thấy 10 thanh kim loại hình chữ V nữa nên quay về. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, P, M1 và H gặp nhau thì P rủ đến công trình cầu vượt G để tiếp tục trộm cắp tài sản thì M1 và H đồng ý. Khi đi, P điều khiển xe mô tô biển số 55Y3-0254 chở M1, còn H điều khiển xe mô tô biển số 85D1-287.98 đi một mình. Khi đến nơi, P, M1 và H trộm cắp 01 tấm khe co giãn bằng kim loại kích thước (1996x190x30)mm và mang đi bán cho bà L, ông H3 được 580.000 đồng. P chia cho M1 và H mỗi người 200.000 đồng.
Ngoài ra, P, M1 và H còn khai nhận thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản khác trong khoảng thời gian tháng 10 và tháng 11/2023 trên địa bàn xã P và xã P, huyện N. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm bị hại nhưng chưa có kết quả, khi nào có kết quả xử lý sau.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 52/KLĐGTS-PTCKH của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N kết luận: 10 thanh kim loại hình chữ V có giá 3.000.000 đồng.
Căn cứ tài liệu do Công ty cổ phần X Cả cung cấp và lời khai của P, M1, H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành định giá tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt gồm: 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước ((743+250)x190x30)mm; 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại, có kích thước ((793+250)x190x30)mm và 01 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước (1996x190x30)mm. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐGTS-PTCKH ngày 24/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N kết luận giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt như sau: 03 (ba) tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước ((743+250)x190x30)mm có giá 9.718.500 đồng; 03 (Ba) tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại, có kích thước ((793+250)x190x30)mm có giá 9.718.500 đồng; 01 (Một) tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước (1996x190x30)mm có giá 6.083.000 đồng.
* Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ đồ vật, chứng cứ như sau:
Tạm giữ Đặng Văn P: 01 xe máy YAMAHA, hiệu SIRIUS, màu đỏ - đen, gắn biển số 85D1 287.98, số máy: E3T6E041883, số khung: RLCUE1710FY030887. Quá trình điều tra xác định tài sản trên là của ông Đặng Văn T (Sinh năm: 1968; Trú tại: Thôn P, xã P, huyện N) là cha ruột của P. Ông T cho P mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc P sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản.
Tạm giữ từ ông Phạm Văn Q là cha ruột của Phạm Văn M: 01 xe mô tô YAMAHA, hiệu SIRIUS, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 55Y3- 0254, số máy: 5C63374928, số khung: RLCS5C6300AY374873. Quá trình điều tra xác định tài sản trên là của chị Phạm Thị Thu N2 là chị ruột của M. Chị N2 cho M mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc P sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản.
Đối với các tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại bị các bị cáo trộm cắp đã đem bán cho bà Phạm Thị Trường T3 và vợ chồng bà Vũ Thị L, ông Nguyễn Thanh H3. Sau khi mua tài sản từ các bị cáo, bà T3 và vợ chồng bà L, ông H3 đã bán đi, không thu giữ được do đó không xem xét đến. Đối với 10 thanh sắt V do H chiếm đoạt nhưng sau đó bị mất nên không thu giữ được.
Đối với việc bà Phạm Thị Trường T3, bà Vũ Thị L và ông Nguyễn Thanh H3 là người mua các tấm khe co giãn răng lược trên do các bị cáo bán nhưng bà T3, bà L và ông H3 không biết là tài sản do P, M và H phạm tội mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý hình sự đối với việc bà T3, bà L và ông H3.
Trong vụ án trên, Công ty cổ phần Đ1 trình báo mất 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước ((743+250)x190x30)mm và 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại, có kích thước ((793+250)x190x30)mm. Qua điều tra đã xác định M, P và H đã trộm cắp 02 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước ((743+250)x190x30)mm và 02 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại, có kích thước ((793+250)x190x30)mm. Đối với 02 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại bị mất còn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau..
* Về dân sự: Công ty cổ phần Đ1 có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 22.041.000 đồng. Trong quá trình truy tố, ông Phạm Văn Q đã nộp số tiền 4.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để bồi thường khắc phục hậu quả thay cho bị cáo M.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố: Đặng Văn P, Phạm Văn M và Nguyễn Công H “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo như sau:
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Đặng Văn P từ 09 đến 12 tháng tù;
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn M từ 06 đến 09 tháng tù;
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Công H từ 12 đến 15 tháng tù.
Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ án phí đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông (bà): Nguyễn Thanh H3, Vũ Thị L, Phạm Thị Trường T3 và Phạm Thị Thu N2 không có lý do. Xét thấy, quá trình điều tra đã có lời khai, vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3]. Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Do muốn có tiền tiêu dùng cá nhân, Đặng Văn P rủ Phạm Văn M, Nguyễn Công H đi trộm cắp tài sản tại công trình thi công cầu vượt G (thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) thuộc công trình cao tốc Bắc – Nam tuyến C - V, cụ thể những lần chiếm đoạt tài sản như sau:
Lần 1: khoảng 12 giờ trưa ngày 13/10/2023 P và M lén lút chiếm đoạt được 02 tấm khe co giãn răng lược, kích thước ((743 + 250)x190x 30)) mm có giá là: 3.239.500 đồng/tấm x 2 tấm = 6.479.000 đồng.
Lần 2: khoảng 19 giờ ngày 13/10/2023 P, M và H lén lút chiếm đoạt 02 tấm khe co giãn răng lược, kích thước ((793 + 250)x190x30)) mm trị giá 3.239.500 đồng/tấm x 2 tấm = 6.479.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản P và M chở đi tiêu thụ. Hiệu đi về nhà một mình, trên đường đi về thì phát hiện 10 thanh kim loại hình chữ V, kích thước (50x50x3)mm, dài 02m trị giá 3.000.000 đồng, H lén lút chiếm đoạt và mang đi cất giấu tại vườn táo dưới chân cầu vượt G. Khi về tới nơi có nói cho M và P biết, hôm sau đến lấy tài sản đi tiêu thụ thì phát hiện tài sản đã bị mất.
Lần 3: khoảng 19 giờ ngày 14/10/2023, P, M và H lén lút chiếm đoạt được 01 tấm khe co giãn bằng kim loại kích thước (1996x190x30)mm trị giá 6.083.000đồng/tấm.
Toàn bộ tài sản các bị cáo chiếm đoạt được gồm: 05 tấm khe giãn lược bằng kim loại có giá là: 19.041.000 đồng và 10 thanh sắt V trị giá 3.000.000 đồng. Tổng cộng tài sản chiếm đoạt là 19.041.000 đồng + 3.000.000 đồng = 22.041.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4]. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nguyên nhân phạm tội là do muốn có tiền để tiêu dùng cá nhân. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó P là người khởi xướng và là người thực hành, H, M là người thực hành. Ngoài ra, H còn phải chịu trách nhiệm đối với lần chiếm đoạt 10 thanh sắt V của Công ty cổ phần Đ1.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo có 03 lần trộm cắp tài sản, mỗi lần trị giá tài sản trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo có chung tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự và đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo M đã tác động gia đình nộp khắc phục hậu quả số tiền 4.000.000 đồng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6]. Quyết định hình phạt đối với các bị cáo:
Xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội từ hai lần trở lên. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng để răn đe, giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc của cuộc sống đồng thời có tác dụng đấu tranh và phòng chống tội phạm. Căn cứ vai trò đồng phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng: bị cáo P là người trực tiếp khởi xướng đồng thời là người thực hành tích cực nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo P phải cao hơn các bị cáo còn lại; đối với bị cáo H và M có vai trò như nhau, tuy nhiên M có nhiều hơn Hiệu 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 của BLHS, H có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt đối với H phải cao hơn đối với M.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe máy YAMAHA, hiệu SIRIUS, màu đỏ - đen, gắn biển số 85D1 287.98, số máy: E3T6E041883, số khung: RLCUE1710FY030887. Quá trình điều tra xác định tài sản trên là của ông Đặng Văn T là cha ruột của bị cáo P. Ông T cho P mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết P sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản nên trả lại xe cho ông Đặng Văn T.
Đối với 01 xe mô tô YAMAHA, hiệu SIRIUS, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 55Y3- 0254, số máy: 5C63374928, số khung: RLCS5C6300AY374873. Quá trình điều tra xác định tài sản trên là của chị Phạm Thị Thu N2 là chị ruột của bị cáo M. Chị N2 cho M mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết việc P sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản nên trả lại cho chị N2.
Đối tài sản các bị cáo chiếm đoạt được đã đem bán cho bà Phạm Thị Trường T3 và vợ chồng bà Vũ Thị L, ông Nguyễn Thanh H3. Sau khi thu mua phế liệu từ các bị cáo, bà T3 và vợ chồng bà L, ông H3 đã bán phế liệu, không thu giữ được do đó không xem xét đến.
[8]. Trách nhiệm dân sự:
Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 22.041.000 đồng. Trong đó P, M tham gia vụ trộm ngày 13/01/2023 chiếm đoạt tài sản trị giá 6.479.000 đồng phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Công ty cổ phần Đ1, chia phần cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường 3.239.500 đồng. P, M, H tham gia 02 vụ chiếm đoạt tài sản trị giá 12.562.000 đồng, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty Cổ phần Đ1. Cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường: 4.187.300 đồng (đã làm tròn số). Đối với 10 thanh sắt V do bị cáo H chiếm đoạt, bị cáo H có nghĩa vụ bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho Công ty cổ phần Đ1.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.000.000 đồng bị cáo M đã nộp khắc phục hậu quả để đảm bảo thi hành án.
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Đối với việc bà Phạm Thị Trường T3, bà Vũ Thị L và ông Nguyễn Thanh H3 là người mua các tấm khe co giãn răng lược trên do các bị cáo bán. Xét thấy bà T3, bà L và ông H3 đều làm nghề buôn bán phế liệu tại địa phương, không biết tài sản do P, M và H phạm tội mà có; giữa các bị cáo và người mua không có việc hứa hẹn sẽ tiêu thụ tài sản sau khi các bị cáo chiếm đoạt được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý hình sự đối với bà T3, bà L và ông H3 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[11]. Ngoài các vụ trộm cắp tài sản của Công ty Cổ phần Đ1 đã được điều tra xử lý, các bị cáo còn khai nhận nhiều lần trộm tài sản trên địa bàn, tuy nhiên do chưa tìm được bị hại và tài sản nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào có căn cứ xử lý sau là phù hợp. Ngoài ra trong vụ án này, Công ty cổ phần Đ1 đã trình báo mất 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước ((743+250)x190x30)mm và 03 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại, có kích thước ((793+250)x190x30)mm. Tuy nhiên chỉ chứng minh được M, P và H đã trộm cắp 02 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại có kích thước ((743+250)x190x30)mm và 02 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại, có kích thước ((793+250)x190x30)mm. Đối với 02 tấm khe co giãn răng lược bằng kim loại bị mất còn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: các bị cáo Đặng Văn P, Phạm Văn M, Nguyễn Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn P 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (28/11/2023).
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn M 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 28/11/2023);
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 06/12/2023);
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trả lại 01 xe máy YAMAHA, hiệu SIRIUS, màu đỏ - đen, gắn biển số 85D1 287.98, số máy: E3T6E041883, số khung: RLCUE1710FY030887 cho ông Đặng Văn T.
Trả lại 01 xe mô tô YAMAHA, hiệu SIRIUS, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 55Y3- 0254, số máy: 5C63374928, số khung: RLCS5C6300AY374873 cho bà Phạm Thị Thu N2.
Vật chứng đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ninh Phước theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03/4/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 587, 589 của Bộ luật Dân sự 2015.
Buộc các bị cáo Đặng Văn P, Phạm Văn M phải liên đới bồi thường cho Công ty cổ phần Đ1 số tiền 6.479.000 đồng, chia phần cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường 3.239.500 đồng;
Buộc các bị cáo Đặng Văn P, Phạm Văn M, Nguyễn Công H phải liên đới bồi thường cho Công ty cổ phần Đ1 số tiền 12.562.000 đồng, chia phần cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường 4.187.300 đồng (đã làm tròn số).
Buộc bị cáo Nguyễn Công H phải bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền 3.000.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.000.000 đồng ông Phạm Văn Q là cha ruột của bị cáo Phạm Văn M nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo Phạm Văn M tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu số 0000658 ngày 19/3/2024 để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo: Đặng Văn P, Phạm Văn M, Nguyễn Công H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc các bị cáo Đặng Văn P, Phạm Văn M mỗi bị cáo phải chịu 533.300 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Công H phải chịu 359.400 đồng án phí Dân sự sơ thẩm (đã làm tròn số).
* Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/5/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn P và đồng phạm về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS
