Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST
Ngày: 09-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Tuyết
  2. Ông Lâm Văn Vô

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 108/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 133/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Tấn Đ, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1994 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: I H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: P nhà T N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Lê Tấn Q, sinh năm 1973 và bà: Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1975; không có anh, chị, em ruột; không có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 04/6/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 79/QĐ-TA, bị cáo chấp hành xong ngày 10/9/2021; nhân thân: Ngày 26/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2014/HSST, chấp hành xong bản án ngày 26/8/2016; ngày 29/8/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng theo Quyết định số 271/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 21/01/2019.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q2; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 19/8/2023, tại trước nhà số B N, Phường B, Quận E, Trinh sát Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an Q2 nghi vấn Lê Tấn Đ đang đứng cạnh Phạm Minh Đ1, có liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ: Bên trong áo khoác của Đ đang mặc có 01 (một) túi giấy màu nâu bên trong có 01 (một) gói nylon có chữ “xương chắc khỏe” bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy; 01 (một) túi da màu nâu có móc treo kim loại, treo ở lưng quần bên trái Đ đang mặc, bên trong túi da có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy và 01 (một) gói nylon chứa 01 (một) viên nén màu hồng là ma túy. Đ khai số ma túy trên dùng để bán nên Công an đưa Đ cùng vật chứng về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Hồi 13 giờ 05 phút ngày 20/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 tiến hành khám xét nơi ở của Lê Tấn Đ ở nhà T N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua khám xét thu giữ: 01 (một) cân tiểu ly kích thước 06 x 12cm, là dụng cụ của Đ dùng để phân chia ma túy.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, bị cáo Lê Tấn Đ khai nhận: Do nghiện ma túy, cần tiền tiêu xài, từ khoảng đầu tháng 7/2023 Đ mua nhiều loại ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực đường T, Quận D, như: Ma túy loại Ketamine với giá 3.800.000 đồng/gói; thuốc lắc với giá 200.000 đồng/viên; ma túy tổng hợp “loại đá” với giá 2.000.000 đồng/gói, để bán lại cho người khác nhằm thu lợi. Đ đã bán ma túy cho nhiều người nhưng không rõ cụ thể thời gian, khối lượng ma túy, và nhân thân người mua, đến ngày 18/8/2023 Đ còn lại 01 (một) gói ma túy loại Ketamine và 01 (một) viên thuốc lắc. Khoảng 22 giờ ngày 18/8/2023, Đ tiếp tục mua của người đàn ông nói trên 01 (một) gói nylon chứa ma túy tổng hợp “loại đá” với giá 2.000.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ ngày 19/8/2023, có một thanh niên quen biết với Đ qua mạng Facebook có tên “Trọng Nguyên” liên lạc, hỏi mua của ma túy tổng hợp, Đ báo giá 2.700.000 đồng thì người này đồng ý mua, hẹn địa điểm mua bán trước số B N, Quận E. Sau đó, Đ cất giấu: 01 (một) gói ma túy “loại đá” vào bên trong áo khoác của Đ đang mặc; 01 (một) gói nylon chứa Ketamine và 01 (một) viên thuốc lắc vào bên trong túi da, móc ở lưng quần của Đ đang mặc để mang đi bán. Trong lúc đang đứng đón xe ôm trước khu N N, phường T, Quận G, Đ thấy Phạm Minh Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 59C4-08488 chạy ngang qua nên kêu Đ1 chở Đ sang Quận E có việc cá nhân, xong việc Đ trả tiền xe cho Đ1 200.000 đồng. Đ1 đồng ý, điều khiển xe 59C4-08488 chở Đ đi đến trước số B N, Phường B, Quận E, Đ kêu Đ1 ngừng xe chờ Đ đi gặp bạn có việc sẽ quay lại. Khi Đ vừa xuống xe, chuẩn bị đi bộ đến điểm hẹn bán ma túy cho “Trọng Nguyên” thì bị Công an Q2 bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Lời khai của Lê Tấn Đ phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1); 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2); 01 (một) gói nylon bên trong chứa 01 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m3); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359459087796384; 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357966107615115/01; 01 (một) túi giấy màu nâu; 01 (một) gói nylon có chữ “xương chắc khỏe”; 01 (một) túi da màu nâu có móc treo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen đỏ; 01 (một) cân tiểu ly.

Tại Bản kết luận giám định số 9129/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có:

  • + Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (Ký hiệu mẫu m1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 4,3221g (bốn phẩy ba hai hai một gam), loại Methamphetamine.
  • + Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (Ký hiệu mẫu m2) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,4113g (một phẩy bốn một một ba gam), loại Ketamine.
  • + Gói 3: 01 viên nén màu hồng trong 01 gói nylon (Ký hiệu mẫu m3) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,4187g (không phẩy bốn một tám bảy gam), loại MDMB-4en-PINACA.

Về trách nhiệm dân sự: Không có người tham gia tố tụng yêu cầu.

Tại Bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 23/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Tấn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Lê Tấn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Tấn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ hình phạt tù giam với mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Không có người tham gia tố tụng yêu cầu nên đề nghị không xem xét; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy đựng trong 03 (ba) gói nylon, 01 (một) túi giấy màu nâu, 01 (một) gói nylon có chữ “xương chắc khỏe”, 01 (một) túi da màu nâu có mốc treo bằng kim loại màu trắng, 01 (một) áo khoác dài tay màu đen đỏ; tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359459087796384 và 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357966107615115/01.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Lê Tấn Đ tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Lê Tấn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 19/8/2023, tại trước nhà số B N, Phường B, Quận E, bị cáo Đ đã có hành vi cất giữ trong người 01 (một) túi giấy màu nâu bên trong có 01 (một) gói nylon có chữ “xương chắc khỏe” bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (một) túi da màu nâu có móc treo kim loại, treo ở lưng quần bên trái Đ đang mặc, bên trong túi da có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 (một) gói nylon chứa 01 viên nén màu hồng, nhằm bán lại cho người khác. Theo Kết luận giám định số 9129/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 4,3221g (bốn phẩy ba hai hai một gam), loại Methamphetamine; gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,4113g (một phẩy bốn một một ba gam), loại Ketamine; gói 3: 01 viên nén màu hồng trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m3) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,4187g (không phẩy bốn một tám bảy gam), loại MDMB-4en-PINACA.

Theo điểm a, b khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng tỷ lệ phần trăm các chất ma túy nêu trên dưới 100%.

Do đó, hành vi của Lê Tấn Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Các chất Methamphetamine, Ketamine và MDMB-4en-PINACA là các chất ma túy gây nghiện, có hại cho sức khỏe và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý tàng trữ chất ma túy để nhằm mục đích mua bán kiếm lời.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm mục đích giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.3] Về nhân thân bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội cướp giật tài sản và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” do sử dụng ma túy trái phép.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1); 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2); 01 (một) gói nylon bên trong chứa 01 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m3) (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định gồm 03 (ba) gói niêm phong số 1835/23-Q5 gói 1, gói 2, gói 3, bên ngoài có chữ ký giám định viên Phan Tấn Q1 và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T), là các vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359459087796384; 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357966107615115/01; xét đây là tài sản cá nhân, bị cáo dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu và sung vào ngân sách theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - 01 (một) túi giấy màu nâu; 01 (một) gói nylon có chữ “xương chắc khỏe”; 01 (một) túi da màu nâu có móc treo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen đỏ; 01 (một) cân tiểu ly; xét đây là các vật bị cáo dùng để cất giấu ma túy thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[7] Đối với những người bán ma túy và người mua ma túy của bị cáo, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

Đối với Phạm Minh Đ1, quá trình điều tra cho thấy Đ1 không đồng phạm với bị cáo nên không có cơ sở xử lý hành vi đồng phạm của Đ1 là phù hợp.

Đối với các lần bán ma túy trước đây của bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên chưa đủ căn cứ để truy tố bị cáo “Phạm tội 02 lần trở lên” là phù hợp.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứnglà có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 8 năm 2023.

  2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1); 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2); 01 (một) gói nylon bên trong chứa 01 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m3) (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định gồm 03 (ba) gói niêm phong số 1835/23-Q5 gói 1, gói 2, gói 3, bên ngoài có chữ ký giám định viên Phan Tấn Q1 và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T); 01 (một) túi giấy màu nâu; 01 (một) gói nylon có chữ “xương chắc khỏe”; 01 (một) túi da màu nâu có móc treo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen đỏ; 01 (một) cân tiểu ly.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359459087796384; 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI: 357966107615115/01.

    (Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/11/2024 giữa Công an Q2 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Lê Tấn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger