|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/DSST
Ngày : 08 - 7 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản
người chết để lại”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Bình và ông Nguyễn Ký.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2023/TLST-DS ngày 09/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-DS ngày 30/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/QĐST-DS ngày 18/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2 (NN&PTNT) Việt Nam (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng). Địa chỉ: B L, Quận B, Hà Nội.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Võ N (chết năm 2023) và bà Ngô Thị H, sinh năm 1965; bà H có mặt.
- + Bà Ngô Thị H, sinh năm 1965; có mặt.
- + Chị Võ Thị Mỹ C, sinh năm 1994; vắng mặt.
- + Anh Võ Đông C1, sinh năm 1996; vắng mặt.
- + Chị Võ Thị Phương N1, sinh năm 2001; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Xuân T – Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện S, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ: C N, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Võ N:
Đồng trú: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng N2 và vợ chồng ông Võ N (chết); bà Ngô Thị H có ký kết Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019; số tiền vay: 280.000.000đ; thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất: 12%/năm; mục đích vay vốn: chăn nuôi bò. Hiện tại khoản vay nói trên đã quá hạn mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ. Tính đến ngày 08/7/2024 bị đơn còn nợ Ngân hàng 411.546.300 đồng; trong đó: Nợ gốc 280.000.000 đồng; lãi trong hạn 42.621.400 đồng và lãi quá hạn 88.924.900 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Võ N trả 411.546.300 đồng (Bốn trăm mười một triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm đồng) (Trong đó: Nợ gốc: 280.000.000 đồng; Nợ lãi: 131.546.300 đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019 cho đến ngày trả dứt điểm số nợ vay.
Trường hợp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số 08/2017/HĐTC ngày 24/8/2017.
Bị đơn bà Ngô Thị H trình bày:
Trước đây khi chồng tôi - Võ Nghĩa (chết năm 2023) còn sống thì vợ chồng tôi có vay tại Ngân hàng N2 01 Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308, ngày 01 tháng 10 năm 2019; số tiền vay: 280.000.000đ; thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất: 12%/năm; mục đích vay vốn: nuôi bò. Khi vay tại Ngân hàng, vợ chồng tôi có thế chấp tài sản cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số 08/2017/HĐTC ngày 24/8/2017.
Hiện nay, chồng tôi đã chết do tai nạn năm 2023, các con của tôi là Võ Thị Mỹ C, Võ Đông C1 và Võ Thị Phương N1 đã được tôi thông báo về vụ án này nhưng các cháu làm ăn xa, hiện không sống chung với tôi nên không có ý kiến gì về vấn đề này. Tôi thừa nhận có vay, hiện còn nợ và có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng 411.546.300 đồng (Bốn trăm mười một triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm đồng) (Trong đó: Nợ gốc: 280.000.000 đồng; Nợ lãi: 131.546.300 đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019 cho đến ngày trả dứt điểm số nợ vay. Tuy nhiên vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, tôi không thể trả một lần cho Ngân hàng, xin được trả lãi hàng tháng.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Ngô Thị H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Võ N (chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1) trả 411.546.300 đồng (Bốn trăm mười một triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm đồng) (Trong đó: Nợ gốc: 280.000.000 đồng; Nợ lãi tính đến ngày 08/7/2024: 131.546.300 đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019 kể từ ngày 09/7/2024 cho đến ngày trả dứt điểm số nợ vay. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thựa hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số 08/2017/HĐTC ngày 24/8/2017.
- Bị đơn bà Ngô Thị H thừa nhận có vay, hiện còn nợ và có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng tuy nhiên vì hoàn cảnh khó khăn xin được trả dần.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát cùng cấp và người tham gia tố tụng đúng theo quy định. Việc đưa vụ án ra xét xử còn chậm.
- - Về nội dung vụ án: Do Toà án chưa thu thập lời khai, ý kiến những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Võ N nên Viện kiểm sát không phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền, thời hiệu giải quyết vụ án:
- - Về quan hệ tranh chấp: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại”.
- - Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn theo quy định tại các Điều 184 và 185 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Về những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Bà Ngô Thị H là người đứng tên trong việc ký kết hợp đồng vay, ông Võ Nghĩa 1 người uỷ quyền và cùng thế chấp tài sản. Năm 2023 ông N chết. Qua xác minh thu thập hàng thừa kế thứ nhất của ông N có: Chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1 (là con đẻ ông N). Như vậy bà Ngô Thị H, chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1 có trách nhiệm liên đới trả nợ đối với khoản vay tại Ngân hàng là có cơ sở. Căn cứ Điều 615 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử có cơ sở buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Võ N phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do ông N để lại đã thế chấp Ngân hàng.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định yêu cầu bà H cung cấp địa chỉ của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Võ Nghĩa 1 các con của ông N: chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1, tuy nhiên bà H không cung cấp. Tại phiên tòa bà H trình bày đã thông báo chị C, anh C1, chị N1 về vụ án này nhưng chị C, anh C1 và chị N1 không tham gia tố tụng do đó không lấy được lời khai, không có văn bản thể hiện ý kiến của chị C, anh C1 và chị N1 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng và cũng không đưa các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét, sự vắng mặt của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Việc giao kết Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019 giữa nguyên đơn Ngân hàng với bị đơn Võ N (chết năm 2023), Ngô Thị H cùng với Hợp đồng thế chấp số 08/2017/HĐTC ngày 24/8/2017 để bảo đảm cho khoản vay của bị đơn ông N, bà H với nguyên đơn Ngân hàng là do các bên tự thỏa thuận và hoàn toàn tự nguyện, đúng với các quy định của Bộ luật dân sự; Luật các Tổ chức tín dụng và các quy chế, quy định của Ngân hàng N4 và nguyên đơn Ngân hàng. Bị đơn ông N, bà H đã nhận đủ số tiền vay 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng). Tuy nhiên từ sau khi vay vốn cho đến nay, sau khi ông N chết, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ là đã vi phạm sự thỏa thuận giữa các bên, vi phạm khoản 2 Điều 7 của Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Căn cứ Điều 8, Điều 10 của Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 463 của Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trả 411.546.300 đồng (Bốn trăm mười một triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm đồng) (Trong đó: Nợ gốc: 280.000.000 đồng; Nợ lãi tính đến ngày 08/7/2024: 131.546.300 đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019 kể từ ngày 09/7/2024 cho đến ngày trả dứt điểm số nợ vay.
[4] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Ngày 30/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay của bị đơn bà H1, ông N đối với tài sản thế chấp là các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp số 08/2017/HĐTC ngày 24/8/2017 vẫn giữ nguyên hiện trạng như thời điểm thế chấp tại Ngân hàng, không cơi nới, tôn tạo, thêm mới và cũng không cho thuê hoặc chuyển nhượng, tặng cho tổ chức, cá nhân nào khác.
Căn cứ Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019 và Điều 4 Hợp đồng thế chấp số 08/2017/HĐTC ngày 24/8/2017, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay trong trường hợp bị đơn Ngô Thị H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Võ N không thanh toán được khoản nợ. Phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả của khoản vay này cho Ngân hàng.
[5] Về án phí, chi phí tố tụng:
[5.1] Về án phí:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 20.462.000 đồng. Xét bị đơn có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình có khó khăn, bản thân hiện đang bị bệnh, có xác nhận của chính quyền địa phương, do đó Hội đồng xét xử xét giảm cho bị đơn ½ án phí phải chịu, bị đơn còn phải chịu 10.231.000 đồng (Mười triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[5.2] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp 1.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho Ngân hàng.
[6] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 184, Điều 185, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 615 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”;
Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N3.
- Buộc bị đơn bà Ngô Thị H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Võ N (chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1) trả cho Ngân hàng N3 411.546.300 đồng (Bốn trăm mười một triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm đồng) (Trong đó: Nợ gốc: 280.000.000 đồng; Nợ lãi tính đến ngày 08/7/2024: 131.546.300 đồng).
Chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do ông N để lại.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/7/2024), bị đơn Ngô Thị H, chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1 còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019 cho đến ngày trả dứt điểm số nợ vay.
Kể từ ngày Ngân hàng N3 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn Ngô Thị H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ tại Hợp đồng tín dụng số 4605LAV201903308 ngày 01/10/2019. Ngân hàng N3 có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo các thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp số 08/2017/HĐTC ngày 24/8/2017 hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay như nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí: Buộc bị đơn Ngô Thị H, chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1 phải chịu 10.231.000 đồng (Mười triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N3 9.274.000 đồng (Chín triệu hai trăm bảy mươi tư nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002983 ngày 07/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn Ngô Thị H, chị Võ Thị Mỹ C, anh Võ Đông C1 và chị Võ Thị Phương N1 hoàn trả cho Ngân hàng N3 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về khoản chi phí hợp lý cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nam Trung |
Bản án số 11/2024/DSST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản người chết để lại
- Số bản án: 11/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng & Y/C thực hiện nhiệm vụ TS người chết để lại" ngân hàng N - Nghĩa, Hương
