Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/DS-ST

ngày 20/9/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Phương Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Luân và bà Trần Thị Minh Phúc.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thông -Thẩm tra viên, Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QÐST-DS ngày 10/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần C;

Địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị L - Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q; địa chỉ: Số B H, Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền số 156/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3.2 ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP C). Có mặt.

Bị đơn:

- Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khu phố E, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khu phố E, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1979,

Địa chỉ: Khu phố E, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Nguyễn Anh H2, sinh năm 1981,

Địa chỉ: Khu phố E, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1988,

Địa chỉ: Số F T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2024 nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q - P và ông Nguyễn Xuân B, bà Nguyễn Thị Quỳnh H đã ký kết các hợp đồng tín dụng sau:

Hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015. Số tiền cho vay là 350.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm năm mươi triệu đồng).

Hợp đồng cho vay số 2101/2019-HĐCV/NHCT450 ngày 21/01/2019. Số tiền cho vay là 160.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi triệu đồng).

- Để bảo đảm cho các hợp đồng tín dụng nói trên; ông Nguyễn Xuân B bà Nguyễn Thị Quỳnh H và Ngân hàng đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 1609/2015/HĐTC ngày 16/09/2015; bao gồm: Quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản, tại Phường A, thị xã Q, Tỉnh Quảng Trị (nay là Khu phố E - phường C - thị xã Q - tỉnh Quảng Trị) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số V 738859, số thửa 601, tờ bản đồ 4, do UBND thị xã Q cấp ngày 07/11/2002, cấp cho hộ ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H.

Theo các giấy nhận nợ số 01 ngày 17/09/2015, số 02 ngày 15/10/2015, số 03 ngày 13/11/2015, số 04 ngày 15/12/2015 của hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015 thì Bên vay đã nhận đủ số tiền 350.000.000đồng từ Ngân hàng. Tất cả các giấy nhận nợ trên đều có lãi suất vay vốn tại thời điểm nhận nợ là 5.0%/năm. Theo các giấy nhận nợ số 01 ngày 21/01/2019 của Hợp đồng cho vay số 2101/2019-HĐCV/NHCT450-Nguyễn Xuân Bắc ngày 21/01/2019 thì Bên vay đã nhận đủ số tiền 160.000.000 đồng từ Ngân hàng. Giấy nhận nợ trên có lãi suất vay vốn tại thời điểm nhận nợ là 11.4%/năm. Kể từ ngày 17/02/2021 đến ngày 04/05/2024, bên vay không thanh toán được nợ vay cho Ngân hàng theo quy định. Ông Nguyễn Xuân B bà Nguyễn Thị Quỳnh H đang nợ Ngân hàng với tổng số tiền là 232.310.116 đồng, trong đó: Nợ gốc: 157.100.000 đồng; Lãi quá hạn: 56.525.644 đồng; Lãi phạt quá hạn: 18.684.472 đồng; tiền lãi, lãi phạt quá hạn tính đến ngày 04/05/2024.

Nay, Ngân hàng, TMCP C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Buộc Ông Nguyễn Xuân B và Bà Nguyễn Thị Quỳnh H phải trả cho Ngân hàng số tiền 232.310.116 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười nghìn một trăm mười sáu đồng), trong đó số tiền gốc 157.100.000 đồng Lãi quá hạn: 56.525.644 đồng; Lãi phạt quá hạn: 18.684.472 đồng.

Trường hợp Ông Nguyễn Xuân B và Bà Nguyễn Thị Quỳnh H không tự nguyện trả toàn bộ số tiền vay trên cho Ngân hàng, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 1609/2015/HĐTC ngày 16/09/2015 để thu hồi vốn cho Nhà nước theo quy định Pháp luật. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp mà không thu đủ nợ vay trên thì khoản nợ còn lại Ông Nguyễn Xuân B và Bà Nguyễn Thị Quỳnh H có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết nợ vay tại Ngân hàng.

Theo bản trình bày ý kiến ngày 20/9/2024 và tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Hoàng Thị L trình bày:

  1. Hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015, ông Nguyễn Xuân B, bà Nguyễn Thị Quỳnh H vay số tiền là 350.000.000đồng; Thời hạn cho vay là 80 tháng; lãi suất trong hạn 5%/năm; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Ngày trả nợ gốc và lãi là ngày 17 hàng tháng. Sau khi khoản vay chuyển quá hạn Ngân hàng sẽ ngừng áp dụng lãi suất ưu đãi, lãi suất cho vay được áp dụng thả nỗi là 11%/năm, lãi suất quá hạn là 16.5%./năm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông B, bà H đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc 281.500.000 đồng và tiền lãi là 19.844.948 đồng. Toàn bộ khoản vay của ông B, bà H chuyển nợ quá hạn từ ngày 17/02/2021. Sau đó, ngày 07/12/2022, bên vay trả nợ cho ngân hàng số tiền là 2.000.000 đồng (trả bớt một phần nợ quá hạn) và từ đó đến nay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Đến ngày 20/09/2024, ông B, bà H còn nợ Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 là số tiền: 110.093.036 đồng. Trong đó: Nợ tiền gốc là 68.500.000đ, nợ lãi là 41.593.036 đồng (lãi trong hạn 29.755.117 đồng, lãi phạt quá hạn: 11.837.919 đồng).
  2. Hợp đồng tín dụng số 2101/2019-HĐCV/NHCT450-NGUYEN XUAN BAC ngày 21/01/2019, ông Nguyễn Xuân B, bà Nguyễn Thị Quỳnh H vay số tiền là 160.000.000đ; Thời hạn cho vay là 60 tháng; lãi suất trong hạn 11.4%/năm, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn (Cụ thể lãi suất quá hạn là 17.1%./năm và lãi suất trong hạn là 11.4%/năm); Ngày trả nợ gốc và lãi là ngày 17 hàng tháng.Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông B, bà H đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc 71.400.000 đồng và tiền lãi là 14.737.104 đồng. Toàn bộ khoản vay của ông B, bà H chuyển nợ quá hạn từ ngày 17/02/2021. Sau đó, ngày 01/02/2021, ông B, bà H trả nợ với số tiền là 3.581.987 đồng và từ đó đến nay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Đến ngày 20/09/2024 ông B, bà H còn nợ Ngân hàng số tiền: 131.310.586 đồng. Trong đó: tiền gốc là 88.600.000 đồng, lãi là 42.710.586 đồng (lãi trong hạn 32.559.728 đồng, lãi phạt quá hạn: 10.150.858 đồng).

Nay, Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề gồm:

Buộc ông Nguyễn Xuân B, bà Nguyễn Thị Quỳnh H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP C theo hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ký ngày 17/09/2015 và Hợp đồng tín dụng số 2101/2019-HĐCV/NHCT450-NGUYEN XUAN BAC ký ngày 21/01/2019 với tổng số tiền tính đến ngày 20/09/2024 là 241.403.622 đồng, trong đó tiền gốc 157.100.000 đồng, tiền lãi là 84.303.622 đồng và buộc ông B, bà H tiếp tục trả lãi đến thời điểm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp ông Nguyễn Xuân B và Bà Nguyễn Thị Quỳnh H không tự nguyện trả toàn bộ số tiền vay trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 1609/2015/HĐTC ngày 16/09/2015 để thu hồi vốn cho Nhà nước theo quy định Pháp luật. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp mà không thu đủ nợ vay trên thì khoản nợ còn lại ông B và Bà H có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết nợ vay tại Ngân hàng.

Phía bị đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh H, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Thúy H1, Nguyễn Anh H2, Nguyễn Thị Thúy K đều có bản trình bày ý kiến: Đồng ý với việc vay và thế chấp tài sản của bố mẹ là ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị H tại Ngân hàng TMCP C và đều xin vắng mặt các buổi hoà giải tại Toà án, xin vắng mặt tại phiên toà.

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chổ và kết quả đo đạc ngày 25/7/2024 thể hiện:

  1. Hiện trạng đất sử dụng:
    1. Phần đất phía trước mặt tiền đường N chưa cấp giấy CNQSD đất có kích thước các cạnh: 13,36 m + 1,69 m + 13,56 m + 1,7 m, tổng diện tích là 22,3 m².
    2. Diện tích đất được cấp Giấy CNQSD đất: Phía Bắc giáp giáp thửa số 80 là: 8,8 m + 4,52 m + 1,78 m + 5,7 m + 15,59 m; Phía Nam giáp thửa số 87 là: 14,0 m + 3,18 m + 3,65 m + 4,21 m + 15,12 m; Phía Tây giáp phần đất chưa cấp giấy CNQSD đất: 13,56 m; Phía Đông giáp thửa số 89 là: 9,01 m. Tổng diện tích đất là 425,8 m² (có bản đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
  2. Hiện trạng nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất:

    Nhà ở: Nhà 1: KT 7,6 m x 5,3 m, tê rát KT 7,6 m x 2,4 m. Nhà 3 gian, một cửa chính, mái lợp ngói, la phong gỗ, tôn, vì kèo gỗ, đỗ bê tông cốt thép, nền đóng đá, tê rát đỗ bê tông, nền đống gạch hoa. Nhà 2: KT 11 m x 5,3 m x 5,8 m x 4,0 m, tường xây, trụ BTCT, sàn đỗ BTCT, gồm 2 cửa chính, 1 cửa phụ, 1 phòng khách,1 phòng ngũ, nhà vệ sinh khép kính. Nhà 3: KT 4,2 m x 4,4 m, tường xây bao che, mái lợp tôn Fbo xi măng, vì kèo, sắt, gỗ. Các vật kiến trúc khác: Sân KT 7,6 m x 4,5 m, nền đóng gạch hoa và tường rào xây bên tông, cốt thép, trụ cổng ốp đá, cửa sắt hoa, hộp.(có bản đồ nhà kèm theo).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý, xét xử vụ án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, Điều 317, khoản 3 Điều 318, 319, khoản 6 Điều 320, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C.

    Buộc ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền là 241.403.622 đồng,( trong đó số tiền gốc là 157.100.000 đồng, số tiền lãi là 84.303.622 đồng ( Trong đó, tiền lãi trong hạn 62.314.845 đồng và tiền lãi quá hạn 21.988.777 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 20/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015 và hợp đồng tín dụng số 2101/2019-HĐCV/NHCT450-NGUYEN XUAN BAC ngày 21/01/2019, giữa Ngân hàng TMCP C và ông Nguyễn Xuân B, bà Nguyễn Thị Quỳnh H.

  2. Về xử lý tài sản đảm bảo:

Trong trường hợp, ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại đối với tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại khu phố E, phường C, thị xã Q, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số V 738859, số thửa 601, tờ bản đồ 4, do UBND thị xã Q cấp ngày 07/11/2002, cấp cho hộ ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H.

2. Về án phí: Buộc bị đơn ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H phải chịu 12.070.181 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hang C số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 5.807.752 đồng.

3. Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp: Nguyên đơn đồng ý chịu 3.036.000đồng chi phí việc xem xét, thẩm định tại chỗ, Nguyên đơn đã nộp đủ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần C, khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H; trú tại khu phố E, phường C, thị xã Q trả nợ khoản tiền vay; đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị (Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự).

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự theo quy định của pháp luật, nhưng phía bị đơn bà Nguyễn Thịu Quỳnh H3 vắng mặt không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh H, vắng mặt; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung hợp đồng:

Hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015 và Hợp đồng cho vay số 2101/2019-HĐCV/NHCT450 ngày 21/01/2019 đã được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q với ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H là hợp pháp. Hợp đồng thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định về giao dịch dân sự nói chung cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng theo quy định của luật tổ chức tín dụng nên có giá trị các bên tham gia giao dịch thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:

Về khoản nợ gốc:

Theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015, ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H vay số tiền là 350.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay đã trả nợ gốc được 281.500.000 đồng; dư nợ gốc ông B, bà H còn phải trả cho ngân hàng là: 68.500.000 đồng. Theo thoả thuận trong hợp đồng cho vay số 2101/2019-HĐCV/NHCT450 ngày 21/01/2019, ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H Số tiền cho vay là 160.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay đã trả nợ gốc được 71.400.000 đồng; dư nợ gốc ông B, bà H còn phải trả cho ngân hàng là: 88.600.000 đồng. Tính đến ngày xét xử 20/9/2024, theo hai hợp đồng tín dụng nói trên thì ông B và bà H còn phải trả cho ngân hàng TMCP C số tiền gốc là 157.100.000 đồng. Do đó, Ngân hàng TMCP C khởi kiện về việc đòi nợ gốc là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận (Căn cứ Điều 463 của Bộ luật dân sự).

Về khoản nợ Lãi:

Tại hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015 thì thoả thuân thời hạn cho vay là 80 tháng; Lãi suất trong hạn 5%/năm; Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Sau khi khoản vay chuyển quá hạn Ngân hàng sẽ ngừng áp dụng lãi suất ưu đãi, lãi suất cho vay được áp dụng thả nỗi là 11%/năm, lãi suất quá hạn là 16.5%./năm. Từ khi vay cho đến nay, ông B, bà H đã trả cho Ngân hàng số tiền lãi là 19.844.948 đồng. Do bị đơn không trả nợ đúng hạn, Ngân hàng đã chuyển nợ gốc và nợ lãi sang nợ quá hạn từ ngày 17/02/2021. Tính đến ngày xét xử 20/09/2024 tổng số tiền nợ lãi của bị đơn là 41.593.036 đồng, (trong đó lãi trong hạn 29.755.117 đồng, lãi phạt quá hạn: 11.837.919 đồng.

Tại hợp đồng tín dụng số 2101/2019-HĐCV/NHCT450-NGUYEN XUAN BAC ngày 21/01/2019 thì thoả thuận thời hạn cho vay là 60 tháng; Lãi suất trong hạn 11.4%/năm, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Cụ thể lãi suất quá hạn là 17.1%./năm và lãi suất trong hạn là 11.4%/năm.Từ khi vay cho đến nay, ông B, bà H đã trả cho Ngân hàng số tiền lãi là 14.737.104 đồng. Do bị đơn không trả đùng hạn nên Ngân hàng chuyển nợ quá hạn từ ngày 17/02/2021. Tính đến ngày xét xử 20/09/2024, tổng số tiền nợ lãi của bị đơn là 42.710.586 đồng (trong hạn 32.599.728 đồng, lãi phạt quá hạn: 10.150.858 đồng.

Do đó, tính đến ngày xét xử 20/9/2024, theo hai hợp đồng tín dụng nói trên thì ông B và bà H còn phải trả cho ngân hàng TMCP C số tiền lãi là 84.303.622 đồng. Xét hợp đồng tín dụng được xác lập và thoả thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả trên cơ sở tự nguyện của hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 91, khoản 2 Điều 95 luật tổ chức tín dụng. Nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử 20/9/2024 là 84.303.622đồng là có cơ sở.

Như vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tổng số tiền còn nợ là 241.403.622 đồng, trong đó số tiền gốc là 157.100.000 đồng, số tiền lãi là 84.303.622 đồng và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng cho đến khi tất toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.

[4] Về hợp đồng thế chấp tài sản:

Để đảm bảo cho khoản vay theo hai hợp đồng tín dụng nói trên, nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 1609/2015/HĐTC ngày 16/09/2015; bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại khu phố E, phường C, thị xã Q, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số V 738859, số thửa 601, tờ bản đồ 4, do UBND thị xã Q cấp ngày 07/11/2002, cấp cho hộ ông Nguyễn Xuân B. Các thoả thuận trong hợp đồng có hình thức, nội dung, mục đích và trách nhiệm của các bên phù hợp với quy định tại các Điều 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự. Do vợ chồng ông B và bà H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng khi đến hạn là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết. Vì vậy Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp là phù hợp với thoả thuận tại Điều 5 của hợp đồng thế chấp số 1609/2015/HĐTC ngày 16/09/2015 và quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Trong trường hợp, ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì ông bà phải giao tài sản thế chấp đã xem xét thẩm định tại chổ ngày 25/7/2024 cho Ngân hàng để thực hiện việc xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 6 Điều 320 của BLDS.

[5] Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp: Nguyên đơn đồng ý chịu 3.036.000đồng chi phí việc xem xét, thẩm định tại chỗ, Nguyên đơn đã nộp đủ.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, Điều 317, khoản 3 Điều 318, 319, khoản 6 Điều 320, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C.

    Buộc ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền là 241.403.622 đồng, (trong đó số tiền gốc là 157.100.000 đồng, số tiền lãi là 84.303.622 đồng (Trong đó, tiền lãi trong hạn 62.314.845 đồng và tiền lãi quá hạn 21.988.777 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm 20/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 1709/2015-HĐTD/NHCT450 ngày 17/09/2015 và hợp đồng tín dụng số 2101/2019-HĐCV/NHCT450-NGUYEN XUAN BAC ngày 21/01/2019, giữa Ngân hàng TMCP C và ông Nguyễn Xuân B, bà Nguyễn Thị Quỳnh H.

  2. Về xử lý tài sản đảm bảo:

    Trong trường hợp, ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại đối với tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tai khu phố E, phường C, thị xã Q, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số V 738859, số thửa 601, tờ bản đồ 4, do UBND thị xã Q cấp ngày 07/11/2002, cấp cho hộ ông Nguyễn Xuân B.

  3. Về án phí: Buộc bị đơn ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị Quỳnh H phải chịu 12.070.181 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP C số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 5.807.752 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000057 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

  4. Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp: Nguyên đơn đồng ý chịu 3.036.000đồng chi phí việc xem xét, thẩm định tại chỗ, Nguyên đơn đã nộp đủ.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
  6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thị xã Quảng Trị;
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Trị;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. Tổ HCTP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 11/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger