1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/DS-ST
Ngày: 18/09/2024
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đoàn Hồng Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thành Định và bà Hoàng Thị Ngọc Lan.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Đức Long - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Mạc Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2022/TLST- DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất.” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐST-DS ngày 18/7/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 03/2024/QĐST-DS ngày 07/8/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 04/2024/TB-TA ngày 05/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-DS ngày 11/9/2024, giữa:
- Nguyên đơn: ông Phạm Văn T - sinh năm 1935; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh - có mặt; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: anh Phạm Văn C - sinh năm 1989; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.(theo hợp đồng ủy quyền ngày 16/11/2022), có mặt;
- Bị đơn: chị Phạm Thị M - sinh năm 1966; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh - Có mặt; Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: anh Dương Văn S - sinh năm 1989; địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh(theo Văn bản ủy quyền ngày 22/4/2024) có mặt;
-
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) huyện V, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: khu E, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Người đại diện theo ủy quyền: ông Đinh Đức M1(theo Văn bản ủy quyền 05/9/2024), vắng mặt; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND huyện V: ông Lê Công T1, có mặt
- Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Quang N - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã B (theo văn bản ủy quyền ngày 08/3/2024)- có mặt;
- Hạt Kiểm lâm huyện V; địa chỉ: thôn A, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Viết C1 - chức vụ; Kiểm lâm viên, Hạt kiểm lâm V (theo văn bản ủy quyền ngày 20/02/2024), vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn D; sinh năm 1987; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh- vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền: anh Dương Văn S; địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (theo văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024), có mặt;
- Bà Nguyễn Thị P - sinh năm 1947; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn giải quyết vắng mặt
- Anh Phạm Văn T2 - sinh năm 1968; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền: anh Phạm Văn C; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh((theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023), có mặt;
- Chị Hoàng Thị N1 - sinh năm 1969; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền: anh Phạm Văn C; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023), có mặt;
- Anh Phạm Văn C2 - sinh năm 1974; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền anh Phạm Văn C; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh(theo văn bản quyền ngày 16/5/2023), có mặt;
- Chị Phạm Thị L - sinh năm 1976; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền: anh Phạm Văn C; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023). có mặt;
- Anh Phạm Văn N2 - sinh năm 1993; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền: anh Phạm Văn C; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023), có mặt;
- Chị Phạm Thị C3 -sinh năm 1995; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền anh Phạm Văn C; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023), có mặt;
- Chị Nguyễn Thị Mỹ D1; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền anh Dương Văn S; địa chỉ: C, C, Hà Tĩnh (theo văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024), có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/03/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Văn T trình bày: thực hiện chính sách của Nhà nước về giao đất trồng rừng, gia đình tôi có 08 nhân khẩu gồm có tôi (Phạm Văn T), vợ tôi Nguyễn Thị P, con trai tôi Phạm Văn T2, con dâu tôi Hoàng Thị N1, con trai tôi Phạm Văn C2, con gái tôi Phạm Thị L, hai cháu nội tôi là Phạm Văn N2, Phạm Thị C3 khi đó cư trú tại xã B huyện V. Ngày 20/6/1995 tôi đã đại diện cho hộ gia đình làm đơn gửi UBND huyện V xin giao đất trồng rừng. Ngày 20/7/1995 UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 60/UBND quyết định giao cho hộ gia đình tôi 13ha đất trồng rừng thuộc lô 04 khoảnh 01 tiểu khu B xã B, huyện V, thời gian sử dụng đất là 50 năm. Sau khi giao đất gia đình tôi đã trồng rừng trên đất được giao. Trong quá trình sử dụng đất, năm 2004 tôi có cho chị Phạm Thị Q và anh Nguyễn Văn T3 (là chồng cũ của chị M) sử dụng một phần để trồng rừng. Sau khi anh T3 chết, năm 2012 chị M đến chiếm và sử dụng.
Năm 2012 nhà nước lập bản đồ địa chính đất rừng, đã xác định thửa đất gia đình tôi được giao theo Quyết định số 60/UBND có diện tích là 156.904m² thuộc thửa đất số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ số 02 bản đồ giao đất giao rừng năm 2012 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q ngày 20/12/2012.
Tại đơn khởi ông Phạm Văn T đã yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Phạm Thị M trả lại phần diện tích đất rừng là 1,8ha gồm cả cây trồng trên đất tại thửa đất số 10 tờ bản đồ số 02 (bản đồ địa chính Lâm nghiệp) tại thôn N, xã B huyện V, tỉnh Quảng Ninh cho gia đình ông; Buộc bà Phạm Thị M có trách nhiệm phải tháo dỡ ngôi nhà tạm xây dựng trên phần đất trồng rừng lấn chiếm của gia đình ông.
Tại phiên hòa giải ngày 11/6/2024 và tại phiên tòa ông T thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể: Rút yêu cầu đối với yêu cầu bị đơn trả lại 10481,1m² đất trồng rừng và yêu cầu tháo rỡ ngôi nhà tạm. Nay chỉ yêu cầu chị M tháo dỡ hàng rào dây thép gai trả lại cho ông T diện tích 7518,9m² thuộc thửa đất số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ số 02. Số cây do chị M trồng trên đất của ông, ông sẽ trả cho chị M 10.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn chị Phạm Thị M và người đại diện cho bị đơn trình bày: Diện tích đất mà chị M đang sử dụng hiện nay ở thôn N, xã B, huyện V là 22.299,1m². Trong đó có 7.518,9m² đất mà Nhà nước giao cho ông T trồng lấn lên đất của gia đình chị M gồm 02 thửa. Thửa thứ nhất diện tích 1462,3m² nằm phía Bắc đường liên thôn (Bản S- T) do vợ chồng chị M mua của ông Vũ Văn L1 từ năm 1987; thửa thứ hai diện tích 6056,6m² nằm phía Nam đường liên thôn (Bản S- T), giáp biển, trước là của ông Nguyễn Đăng N3 một phần sử dụng từ năm 1991 cho anh D, chị D1 vào năm 2001 và 01 phần khoảng 1600m² là do gia đình chị mua của ông L1.
Sau khi mua nhà, đất của gia đình ông L1, gia đình chị ở và sử dụng ổn định cho đến năm 1993. Do điều kiện khó khăn, nên năm 1993 chị chuyển khẩu vào xã Đ, huyện V ở nhờ nhà bố mẹ đẻ của chị để thuận tiện cho các con đi học, còn chồng chị (anh Nguyễn Văn T3) và các con vẫn hộ khẩu tại xã B. Năm 2019 chị lại chuyển khẩu ra xã B. Trong quá trình sử dụng đất gia đình chị chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không kê khai đăng ký đất đai với UBND xã B.
Năm 1995 khi nhà nước giao đất rừng cho ông Phạm Văn T, chị không được biết, khoảng mấy tháng sau thì tình trạng chồng lấn đất rừng lên đất vườn của người dân dẫn đến tranh chấp, nên chị có nói với ông T xem xét lại và ông T đã thừa nhận có chồng lấn lên đất vườn của gia đình chị. Năm 2011 ông T đã viết giấy đồng ý trả lại phần đất vườn cho chị. Việc ông T đồng ý trả lại đất cho chị, chị cũng không thông báo với chính quyền địa phương.
Tại văn bản ngày 26/4/2024 chị yêu cầu “hủy giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất rừng của ông T đã được cấp chồng chéo lên đất vườn của gia đình chị”. Tuy nhiên yêu cầu này, tại phiên tòa chị M giải thích là chị yêu cầu UBND huyện V thu hồi diện tích 7.518,9m² đất giao cho ông T chồng chéo vào đất vườn của chị. Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã B trình bày: Năm 1987 gia đình chị M có mua lại nhà đất của gia đình ông Vũ Văn L1 để ở và canh tác, nhưng ranh giới, diện tích đất không rõ là bao nhiêu. Đến năm 1991 gia đình chị M không ở và sinh sống, canh tác ở khu đất đó nữa. Nhà đất mua của ông L1 bỏ hoang, không có người canh tác. Năm 1995 được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là đất lâm nghiệp, được sử dụng để trồng rừng. Quá trình sử dụng đất, gia đình chị M không kê khai đăng ký đất đai với UBND xã B, đồng thời UBND xã Bản Sen từ trước năm 1995 cũng chưa lập sổ địa chính để theo dõi, quản lý. Năm 1995 thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc giao đất lâm nghiệp cho người dân ở địa phương để trồng rừng, phủ xanh đất trống đối núi trọc, UBND xã B đã xét duyệt đơn xin giao đất giao rừng của ông Phạm Văn T nhận thấy gia đình ông T đủ điều kiện nhận đất trồng rừng theo quy định của pháp luật, nên đã tham mưu cho UBND huyện V giao cho gia đình ông Phạm Văn T thửa đất lô 04 khoảnh 01 tiểu khu B xã B, huyện V để trồng rừng, nay là thửa số 10 tờ bản đồ số 02 (bản đồ địa chính Lâm nghiệp) tại thôn N, xã B huyện V, tỉnh Quảng Ninh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hạt kiểm lâm huyện V trình bày tại văn bản số 153/YK-KLVĐ ngày 28/8/2023 như sau:Thời điểm giao đất, giao rừng cho chủ rừng Phạm Văn T ngày 02/7/1995. Tại thời điểm này việc giao đất, giao rừng dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 19/8/1991 và Nghị định số 2-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, Về căn cứ để giao đất, địa phương đã đảm bảo theo đúng quy hoạch cụ thể đã được UBND xã xác nhận vào đơn xin nhận đất, nhận rừng của ông Phạm Văn T, Về đối tượng được giao đất lâm nghiệp: ông Phạm Văn T là người dân cư trú tại địa phương do đó thuộc diện được giao đất lâm nghiệp để tăng gia sản xuất, ổn định cuộc sống lâu dài. Hạt Kiểm lâm huyện V đã tham mưu cho UBND huyện V giao đất, giao rừng cho ông Phạm Văn T theo quyết định số 60/QĐ-UB ngày 02/7/1995 của huyện V là đúng quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện V trình bày: Về hồ sơ giao đất, giao rừng theo Quyết định giao đất, giao rừng số 60/QĐ-UB ngày 20/7/1995 mang tên ông Phạm Văn T, gồm: Đơn xin nhận đất, nhận rừng của ông Phạm Văn T; Quyết định số: 60/QĐUB ngày 20/7/1995; Biểu thống kê tài nguyên rừng khi bàn giao; Biên bản giao nhận vốn rừng; Nhiệm vụ tình hình sản xuất kinh doanh; Bản đồ giao đất, giao rừng năm 1995 (kèm theo QĐ giao);
Căn cứ hồ sơ nêu trên, ông Phạm Văn T trú tại thôn N, xã B, huyện V được UBND huyện V giao 13,0ha đất để trồng rừng tại Lô V khoảnh 1 tiểu khu B - xã B; loại rừng 1b (đất để trồng rừng). Xét thấy, tại hồ sơ giao đất, giao rừng kèm theo bản đồ giao đất rừng cho hộ ông Phạm Văn T năm 1995 chỉ giao theo lô khoảnh; dáng hình thửa đất (trên nền bản đồ địa hình); không có toạ độ; vẽ trên bản đồ tỷ lệ 1/1000.
Biến động về đất đai trong quá trình quản lý, sử dụng đất: Ngày 13/5/2021, Ủy ban nhân dân huyện T4 đất để thực hiện dự án theo Quyết định số 5206/QĐ-UBND ngày 02/12/2020, diện tích thu hồi là: 1.107,6m². Diện tích còn lại là: 12,99 ha. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã thực hiện chỉnh lý biến động.
Năm 2012, UBND huyện tiến hành đo đạc bản đồ địa chính lâm nghiệp cho các hộ trên địa bàn xã B, vị trí thửa đất được giao tương ứng là thửa đất số 10 tờ bản đồ số 02 đã được đo đạc, xác định ranh giới thửa đất trên bản đồ, đã đăng ký kê khai vào hồ sơ địa chính (sổ mục kê đo đạc) có quy chủ cho ông Phạm Văn H (L2), diện tích: 15.690m². Lý do quy sai tên chủ sử dụng đất: do ông H là con trai của ông T, nên việc đơn vị tư vấn đo vẽ thành lập bản đồ ghi nhầm tên chủ sử dụng do nhầm lẫn trong quá trình đo đạc, xác minh chủ sử dụng.
Hạt K huyện V có Công văn số 153/YK-KLVĐ ngày 28/8/2023 khẳng định ông Phạm Văn T được UBND huyện V giao đất, giao rừng theo Quyết định số 60/QĐ/UB ngày 20/7/1995 là đúng quy định. Do đó, việc Ủy ban nhân dân huyện V thực hiện giao đất, giao rừng cho ông Phạm Văn T là bảo đảm theo quy định pháp luật tại thời điểm giao đất, giao rừng (năm 1995). Tại thời điểm này việc giao đất giao rừng dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Đất đai năm 1993, Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 19/8/1991; quy định tại Điều 4, Điều 5 của Nghị định số 2/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính Phủ về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Ông Phạm Văn T được xem xét thực hiện các quyền của người sử đụng đất theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện V trình bày: Việc giao đất rừng cho các hộ gia đình cá nhân trước đây được dựa vào địa hình thửa đất, thường giao theo rông đất, nên diện tích không chính xác, sau này xác định thửa đất bằng các thiết bị đo đạc điện tử, nên diện tích đất giao cho ông T có sự thay đổi. Sự thay đổi diện tích này không ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của người sử dụng đất (ông T) và cũng không làm phát sinh tranh chấp giữa những người sử dụng đất. Về việc chị M “yêu cầu UBND huyện V thu hồi diện tích 7.518,9m² đất giao cho ông T chồng chéo vào đất vườn của chị.”. UBND huyện V phải căn cứ vào bản án có hiệu lực của Tòa án để thực hiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P, anh Phạm Văn T2, chị Hoàng Thị N1, anh Phạm Văn C2, chị Phạm Thị L, anh Phạm Văn N2, chị Phạm Thị C3 có ý kiến trình bày và quan điểm đối với vụ án như quan điểm của Nguyên đơn:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D trình bày: thửa đất mà ông T yêu cầu gia đình tôi trả cho ông ấy có nguồn gốc của gia đình tôi mua lại của ông Vũ Văn L1 được mọi người dân ở xã B và cả ông T thừa nhận. Gia đình tôi sử dụng liên tục, ổn định từ năm 1987 cho đến nay, không có cơ quan nhà nước nào yêu cầu gia đình chúng tôi không được sử dụng thửa đất đó. Về diện tích thửa đất đó tôi không rõ là bao nhiêu mét vuông nhưng được xác định là các cây cối gia đình tôi mua lại của ông L1 và sau đó có trồng thêm. Năm 1995 UBND xã Bản Sen xác nhận thửa đất của gia đình tôi là đất trống đồi núi trọc là không đúng đã xâm phạm đến tài sản của gia đình tôi.
Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan chị Nguyễn Thị Mỹ D1 trình bày: thửa đất mà ông T yêu cầu mẹ tôi trả lại cho ông ấy có nguồn gốc của gia đình tôi mua lại của ông Vũ Văn L1 được mọi người dân ở xã B và cả ông T thừa nhận. Gia đình tôi sử dụng liên tục, ổn định từ năm 1987 cho đến nay, chưa bị thu hồi. Về diện tích thửa đất đó tôi không rõ là bao nhiêu mét vuông nhưng được xác định là các cây cối gia đình tôi mua lại của ông L1 và sau đó có trồng thêm. Năm 1995 UBND xã B và Hạt kiểm lâm huyện V xác nhận thửa đất của gia đình tôi là đất trống đồi núi trọc là không đúng đã xâm phạm đến tài sản của gia đình tôi.
Người làm chứng chị Phạm Thị Q trình bày: sau khi anh T3 (Nguyễn Văn T3) ly hôn chị M thì tôi kết hôn với anh T3. Sau khi kết hôn chúng tôi chuyển hộ khẩu ra ngoài xã B sinh sống. Chúng tôi mua nhà ở khu vực thôn K, ở khu vực tái định cư của xã B hiện nay. Thời gian đó khu vực đất tranh chấp giữa ông T với chị M hiện nay không có ai sử dụng. Tôi và anh T3 có đến phát cây dại và trồng một số cây Bạch Đàn ở khu vực khe nước. Sau đó ông T có nói với anh T3 là khu đất đó ông T đã được giao đất và cho anh T3 trồng Bạch đàn. Do vậy tôi và anh T3 có trồng một số cây Bạch đàn trên đó. Khoảng 4 năm sau tôi và anh T3 thu hoạch được một lần. Sau đó chúng tôi không trồng, không khai thác nữa. Khi trồng cây ở đó tôi thấy có một cái móng nhà, tôi được anh T3 cho biết là trước đó anh T3, chị M mua của ông L1 và ở đó được vài năm thì không ở nữa. Anh T3, chị M chuyển khẩu vào trong xã Đ, huyện V sinh sống. Trong thời gian chị với anh T3 sinh sống ở Bản Sen chị không thấy chị M đến đất đó. Trên khu đất đó có một cây Vải nhưng hầu như không có quả và cùng không có ai đến chăm sóc thu hoạch gì. Chị chỉ trồng một số cây Bạch Đàn ở khu vực khe suối (phần đất giao cho bà Đ) còn ở phía trên cao và khu vực giáp biển không phải do chị trồng.
Người làm chứng ông Phạm Hải Đ1 trình bày: ông là Chủ tịch UBND xã B, huyện V nhiệm kỳ 1994-1999. Năm 1995, thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân ở địa phương vào việc bảo vệ và trồng rừng. Sau khi đoàn khảo sát thiết kế Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ninh tiến hành khảo sát đánh giá khu vực đất thuộc khoảnh 1 tiểu khu B xã B là đất rừng thuộc loại đất lâm nghiệp để giao đất, giao rừng theo quy định của nhà nước vì đất có độ dốc từ 15⁰ trở lên. Diện tích đất giao cho ông T tại thời điểm giao cho ông T không có người sử dụng là đất trống, đồi núi trọc. Ông T là người có hộ khẩu tại địa phương và trong hộ gia đình ông T còn có các con không có công ăn việc làm, sau khi xem xét đơn xin nhận đất, nhận rừng của ông T, thấy hộ gia đình ông T đủ điều kiện được nhận đất để trồng rừng ông đã ký xác nhận vào đơn xin giao đất, giao rừng của ông T. Về thực trạng sử dụng diện tích đất tranh chấp này thì trước đó do gia đình ông Vũ Văn L1 sử dụng, ông không nhớ từ năm nào. Đến khoảng năm 1987 thì ông L1 bán lại hay cho chị M, ông không rõ. Vợ chồng chị M và anh T3 sử dụng đến khoảng năm 1990 hay 1991 thì gia đình anh T3, chị M chuyển vào trong xã Đ, huyện V sinh sống, không sử dụng thửa đất đó nữa. ngôi nhà anh T3, chị M mua của ông L1 bị bão làm hư hỏng toàn bộ. Năm 1995 khi khảo sát để giao diện tích đất này cho gia đình ông T, thì trên đất chỉ một số cây chè do hợp tác xã H1 trồng trước kia, ngôi nhà gia đình chị M mua lại của ông L1 chỉ còn lại phần móng làm bằng đá, không có cây bạch đàn. Toàn bộ diện tích đất này bị bỏ hoang, không có người sử dụng đã lâu, nên cỏ lau mọc um tùm. Trước khi giao đất cho hộ gia đình ông T sử dụng, thì không cá nhân, hộ gia đình, tổ chức nào kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với diện tích đất này, kể cả gia đình chị M. Việc giao diện tích đất rừng thuộc khoảnh 1 tiểu khu B xã B cho gia đình ông T là đúng quy định của pháp luật và chủ trương của Nhà nước. Gia đình chị M đã bỏ không sử dụng và chuyển đi khỏi địa phương đã lâu, nên việc giao diện tích đất này cho gia đình ông T là người có hộ khẩu tại địa phương là đúng.
Người làm chứng ông Nguyễn Đăng N3 trình bày: khoảng năm 2001 tôi có cho hai cháu D, D1 thửa đất giáp biển, ở vị trí phía dưới nhà cũ của anh T3, chị M ở thôn N, xã B. Nguồn gốc thửa đất này trước năm 1990 là đất hoang không có người sử dụng, năm 1990 khi nhà nước có chính sách khuyến khích nhân dân trồng rừng, tôi đã có tham gia trồng một số cây Bạch đàn trắng trên phần đất giáp biển dưới nhà cũ của anh T3, chị M (phía nam đường B - T). Sau khi trồng, tôi đã khai thác được hai lần. Trong quá trình sử dụng diện tích đất này, tôi không kê khai, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cùng chưa được nhà nước giao đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2001 sau khi anh T3 và chị M ly hôn tôi có cho hai cháu D và D1 thửa đất này để sử dụng, khi đó cháu D khoảng 14 tuổi, còn cháu D1 khoảng 12 tuổi và đang là học sinh. Năm 1995 khi nhà nước giao đất cho ông T, tôi đi học không có mặt tại địa phương nên không biết cụ thể. Năm 1987 anh T3, chị M có mua nhà của ông Vũ Văn L1 thửa đất ở phía trên đường mòn này (nay là đường B- T), còn diện tích cụ thể tôi không rõ. Đến khoảng năm 1991 gia đình anh T3 chuyển vào trong xã Đ, huyện V xây nhà, đến năm 1993 thì vợ chồng anh T3 chuyển vào trong xã Đ sinh sống, anh T3 thời đó làm thủy thủ tàu khách vẫn thường xuyên đi lại và về nhà cũ (ở xã B) ở. Năm 1994 ngôi nhà mua của ông L1 bị bão hư hỏng hoàn toàn không sử dụng được. Sau khi nhà bị hư hỏng thì anh T3 mỗi lần ra Bản Sen vẫn ở với tôi. Đối với chị M thời gian đầu sau khi chuyển vào xã Đ thì thỉnh thoảng mới ra nhà cũ. Sau khi chị M nghỉ làm giáo viên thì vẫn thường xuyên đi buôn bán tại xã B và ở cùng gia đình tôi. Sau khi anh T3, chị M ly hôn thì anh T3 với chị Q có tiếp tục sử dụng thửa đất mà anh T3, chị M mua trước đó của ông L1 nhưng chỉ canh tác tại phần đất mà Nhà nước giao cho bà Đ, còn phần đất mà nhà nước giao cho ông T thì anh T3 không canh tác mà do anh Phạm Văn H (L2) con ông T trực tiếp sử dụng. Việc nhà nước giao đất cho ông T vào phần đất tôi đã sử dụng trước đó mà sau này tôi cho hai cháu D và D1 tôi không có ý kiến gì. Khi cho hai cháu D và D1 thửa đất này tôi không lập văn bản và cũng không báo cáo với chính quyền địa phương. Tôi khẳng định hiện nay tôi không có quyền gì đối với thửa đất này, tài sản trên thửa đất này tôi cùng không có tài sản gì.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2023: theo kết quả đo đạc, thì hiện nay chị Phạm Thị M đang dụng 7518,9m² (1462,3m²+ 6056,6m²) thuộc thửa đất số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ lâm nghiệp số 02 xã B, huyện V.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử được phân công thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự cơ bản thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Phạm Văn T yêu cầu bị đơn chị Phạm Văn M2 trả lại cho Nguyên đơn một phần diện tích đất trồng rừng mà nguyên đơn đã được UBND huyện V giao đất, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất. Đây là quan hệ tranh chấp được quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Đối tượng tranh chấp giữa các đương sự là quyền sử dụng đất, có địa chỉ tại thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, đã có quyết định giao đất và tranh chấp đã được hòa giải tại UBND xã B, huyện V nhưng không thành. Nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013 thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
[1.3] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hạt Kiểm lâm huyện V đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; các anh, chị Phạm Văn T2, Hoàng Thị N1, Phạm Văn C2, Phạm Thị L, Phạm Văn N2, Phạm Thị C3 vắng mặt, nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền là anh Phạm Văn C; anh Nguyễn Văn D và chị Nguyễn Thị Mỹ D1 vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền là anh Dương Văn S. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của khoản 1, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Hạt Kiểm lâm huyện V, bà Nguyễn Thị P, anh Phạm Văn T2, chị Hoàng Thị N1, anh Phạm Văn C2, chị Phạm Thị L, anh Phạm Văn N2, chị Phạm Thị C3, anh Nguyễn Văn D và chị Nguyễn Thị Mỹ D1 .
[2] Về nội dung:
[2.1] Về việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện: tại đơn khởi kiện ngày 04/3/2022 Nguyên đơn ông Phạm Văn T yêu cầu bị đơn chị Phạm Thị M: trả lại phần diện tích đất rừng là 1,8ha gồm cả cây trồng trên đất tại thửa đất số 10 tờ bản đồ số số 2 (bản đồ địa chính Lâm nghiệp) tại thôn N, xã B huyện V, tỉnh Quảng Ninh cho gia đình ông; phải thảo dỡ ngôi nhà tạm xây dựng trên phần đất trồng rừng lấn chiếm của gia đình ông.
Tại phiên hòa giải ngày 11/6/2024 và tại phiên tòa Nguyên đơn thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể: Rút yêu cầu đối với yêu cầu bị đơn trả lại 10481,1m² đất trồng rừng và yêu cầu bị đơn tháo rỡ ngôi nhà tạm. Tiếp tục yêu cầu bị đơn chị Phạm Thị M tháo dỡ một phần hàng rào dây thép gai, trả lại cho nguyên đơn diện tích 7518,9m² đất thuộc thửa đất số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ lâm nghiệp số 02 xã B, huyện V.
Việc Nguyên đơn ông Phạm Văn T rút một phần yêu cầu khởi kiện này là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn, theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Xét đơn “phản tố” của bị đơn: Ngày 26/4/2024, bị đơn chị Phạm Thị M có “đơn phản tố” đề ngày 26/4/2024. Xét thấy nội dung “đơn phản tố” là những ý kiến, quan điểm phản đối của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không phải là yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu “phản tố” của bị đơn.
[2.3] Về vị trí và diện tích đất tranh chấp: căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì diện tích đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn, gồm 02 thửa và đều nằm trong thửa đất số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ số 02 bản đồ giao đất giao rừng năm 2012 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q ngày 20/12/2012, có diện tích là 7518,9m². Thửa thứ nhất có diện tích 1462,3m², có vị trí nằm phía Bắc của đường bê tông tuyến đường B- T được xác định giới hạn bởi các điểm 20A, 21..29, 29A, 20A của sơ họa biên bản mô tả ranh giới mốc thửa đất tại buổi thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2023; thửa thứ hai có diện tích 6056,6m², có vị trí nằm phía Nam của đường bê tông tuyến đường B- T, giáp biển, được xác định giới hạn bới các điểm 47A, 48...67, 67A, 47A của sơ họa biên bản mô tả ranh giới mốc thửa đất tại buổi thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2023.
[2.4] Về ranh giới, diện tích đất gia đình chị M mua lại (nhận chuyển nhượng) của gia đình ông Vũ Văn L1: theo trình bày của chị M thì ngoài phần diện tích đất nằm trong thửa đất nhà nước giao cho bà Đ, còn có khoảng 3000m² đất nằm trong thửa đất nhà nước giao cho ông T là đất mà chị và anh T3 mua lại của gia đình ông L1 từ năm 1987.
Tại “đơn trình bày” ngày 11/7/2024 và tại phiên tòa chị M trình bày: theo kết quả đo đạc và thẩm định của Tòa án thì toàn bộ diện tích nằm ở phía bắc đường B-Tân Lập trong đó có 1462,3m² (thửa thứ nhất) và một phần khoảng 1600m² đất nằm ở phía N đường B - T (giáp biển) là diện tích đất chị M mua của ông Vũ Văn L1. Tuy nhiên lời khai này của chị M mâu thuẫn với nội dung tại bản tự khai ngày 21/04/2024 có nội dung “Mảnh đất phía dưới đường bê tông sát bãi biển, hiện tại đang được gia đình tôi canh tác và sử dụng là do ông Nguyễn Đăng N3 (chú ruột của 02 con tôi Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị Mỹ D1) đã canh tác, trồng cây bạch đàn trắng và bạch đàn đỏ trên mảnh đất này”. Lời trình bày này phù hợp với khai của ông Nguyễn Đăng N3 khai tại Tòa án ngày 11/7/2024. “Nguồn gốc thửa đất này trước năm 1990 là đất hoang không có người sử dụng, năm 1990 khi nhà nước có chính sách khuyến khích nhân dân trồng rừng, tôi đã có tham gia trồng một số cây Bạch đàn trắng trên phần đất giáp biển dưới nhà cũ của anh T3, chị M”. Ngoài lời trình bày, chị M không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh để xác định diện tích, ranh giới thửa đất mà chị M đã mua của gia đình ông L1. Như vậy không có cơ sở xác định diện tích khoảng 1600m² đất nằm ở phía N đường B - T (giáp biển) là diện tích đất chị M đã mua của gia đình ông Vũ Văn L1 như lời trình bày của chị M.
[2.5] Về nơi cư trú của chị M và anh T3: theo lời trình bày của chị M thì năm 1993 một mình chị chuyển hộ khẩu vào trong xã Đ, huyện V, còn anh Nguyễn Văn T3 chồng chị cùng với các con vẫn có hộ khẩu tại xã B. Tuy nhiên chị M không cung cấp được tài tài liệu nào chứng minh được về việc cư trú của anh Nguyễn Văn T3. Tòa án đã tiến hành xác minh tại công an huyện nhưng cũng không có thông tin về nơi cư trú của anh T3. Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại Tòa án huyện V thì năm 2000 chị M và anh T3 có đơn ly hôn gửi Tòa án, trong đó thể hiện anh T3 và chị M đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện V. Như vậy chị M cho rằng anh T3 không chuyển hộ khẩu vào xã Đ, huyện V là không có cơ sở.
[2.6] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp: theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ (kết quả đo đạc), lời trình bày của các bên, cũng như các tài liệu, chứng cứ của các bên cung cấp và do Tòa án thu thập thì có cơ sở xác định:
Đối với thửa đất có diện tích 1462,3m² phía Bắc của đường B- T: trước năm 1987 do gia đình ông Vũ Văn L1 sử dụng để ở và canh tác. Đến năm 1987 vợ chồng chị M, anh T3 sử dụng (theo chị M là do vợ chồng chị M mua lại của vợ chồng ông L1). Việc mua bán chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất giữa chị M, anh T3 với gia đình ông L1 không lập văn bản, không được thông qua chính quyền địa phương. Trong quá trình sử dụng đất chị M, anh T3 không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất với chính quyền địa phương. Do điều kiện cuộc sống khó khăn năm 1993 gia đình chị M và anh T3 chuyển vào xã Đ sinh sống, chị M làm giáo viên còn anh T3 làm thủy thủ trên tàu khách tuyến C- Bản S. Năm 1994 do bị bão, ngôi nhà vợ, chồng chị M mua của ông L1 bị hư hỏng hoàn toàn, không sử dụng để ở được nữa. Diện tích đất mà vợ chồng chị M mua của ông L1 bị bỏ hoang. Năm 1995 thực hiện chủ trương giao đất trồng rừng cho người dân địa phương, UBND xã B và Hạt K lâm huyện V, Đoàn Khảo sát Thiết kế Lâm nghiệp tỉnh Q đã kiểm tra, xác định diện tích đất này là đất trống đồi núi trọc, thuộc loại đất lâm nghiệp. Căn cứ vào đơn xin giao đất rừng của gia đình ông Phạm Văn T là người có hộ khẩu tại địa phương, đủ điều kiện để nhận đất trồng rừng, ngày 20/7/1995 UBND huyện V đã giao cho gia đình ông T 13ha đất lâm nghiệp thuộc lô 04 khoảnh 1 tiểu khu B xã B, huyện V để trồng rừng. Sau khi nhận đất, gia đình ông T tổ chức trồng rừng trên phần đất được giao ổn định không xảy ra tranh chấp. Năm 2012, UBND huyện V tiến hành đo đạc bản đồ địa chính lâm nghiệp trên địa bàn xã B, thửa đất số 10 khoảnh 1 tiểu khu 204 tờ bản đồ số 02 đã được xác định ranh giới thửa đất (theo hiện trạng đang sử dụng) và đã đăng ký kê khai vào hồ sơ, quy chủ cho ông Phạm Văn H (Lục) (con trai ông Phạm Văn T), diện tích: 15.690m², trong đó gồm cả thửa đất diện tích 1462,3m² đang tranh chấp. Năm 2013 thì bắt đầu xảy ra tranh chấp giữa chị Phạm Thị M với ông Phạm Văn T.
Đối với thửa đất có diện tích 6056m² nằm phía Nam của đường B- T, giáp biển: Do ông Nguyễn Đăng N3 trực tiếp sử dụng trồng rừng từ năm 1991 đến năm 2001, trong quá trình sử dụng ông N3 không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, chưa được giao đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2001 ông N3 cho anh D, chị D1 nhưng không lập văn bản, không thông báo với UBND xã B. Khi nhận thửa đất này anh D mới 14 tuổi, chị D1 12 tuổi, chưa đến tuổi lao động đang là học sinh và không phải là người có hộ khẩu tại địa phương. Năm 2012, UBND huyện V tiến hành đo đạc bản đồ địa chính lâm nghiệp trên địa bàn xã B, xác định thửa đất này thuộc thửa đất số 10 khoảnh 1 tiểu khu 204 tờ bản đồ số 02 đã được xác định ranh giới thửa đất đang sử dụng và đã đăng ký kê khai vào hồ sơ, quy chủ cho ông Phạm Văn H (Lục) (con ông Phạm Văn T). Ông N3 không có ý kiến phản đối gì về việc nhà nước giao thửa đất này cho ông T.
Chị M cho rằng diện 7518,9m² đất tranh chấp giữa chị với ông T mà ông T được nhà nước giao thuộc quyền sử dụng của chị. Hội đồng xét xử thấy mặc dù diện tích đất này trước khi giao cho ông T (năm 1995) là do vợ chồng chị M, anh T3 và anh N3 sử dụng để ở và làm vườn, trồng rừng, nhưng đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ, chồng chị M, anh T3 đã không sử dụng ổn định, đất bị bỏ hoang, được cơ quan Nhà nước xác định là đất lâm nghiệp dùng để sử dụng trồng rừng. Quá trình sử dụng chị M, anh T3 và anh N3 không kê khai, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Đến nay chị M cũng không cung cấp được các giấy tờ theo quy định của Điều 100 Luật Đất đai 2013. Do vậy không đủ căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp này thuộc quyền sử dụng của chị Phạm Thị M cũng như của anh Nguyễn Văn T3.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn T:
[3.1], Về yêu cầu trả lại 7518,9m² thuộc thửa đất số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ lâm nghiệp số 02:
Năm 1995 thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước về giao đất lâm nghiệp cho cá nhân, hộ gia đình có hộ khẩu tại địa phương để trồng rừng, xét đơn xin giao đất trồng rừng của hộ gia đình ông T là người cư trú tại địa phương (xã B, huyện V), để phát huy hiệu quả của đất, đất được đưa vào sử dụng đúng kế hoạch, quy hoạch, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho nhân dân địa phương.., UBND huyện V đã ban hành Quyết định số: 60/QĐ-UB ngày 20/7/1995 về việc giao cho hộ gia đình ông T gồm 08 khẩu (Phạm Văn T, Nguyễn Thị P, Phạm Văn T2, Hoàng Thị N1, Phạm Văn C2, Phạm Thị L, Phạm Văn N2, Phạm Thị C3) thửa đất lô 4 khoảnh 01 tiểu khu B xã B, huyện V (nay là thửa số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ số 02 bản đồ giao đất giao rừng năm 2012 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q ngày 20/12/2012). Như vậy việc giao thửa đất lô 4 khoảnh 01 tiểu khu B xã B, huyện V cho hộ gia đình ông T của UBND huyện V là đúng quy định của Luật đất đai 1993, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 19 tháng 8 năm 1991, Nghị định số 2-CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ), không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình chị M. Theo quy định tại khoản 4 Điều 100 Luật Đất đai 2013, thì diện tích 7518,9m² đất tranh chấp (thuộc thửa số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ số 02) thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Phạm Văn T. Yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T được chấp nhận.
[3.2]. Do diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Phạm Văn T, nên chị M phải có trách nhiệm tháo dỡ, di rời toàn bộ hàng rào dây thép gai dài 76,9m (được xác định từ điểm 20A đến điểm 25 của sơ họa biên bản mô tả ranh giới mốc thửa đất tại buổi thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2023) được lắp đặt trên diện tích đất tranh chấp.
[3.3]. Số cây trồng trên đất tranh chấp được hai bên thống nhất thỏa thuận: hộ gia đình ông Phạm Văn T được sở hữu toàn bộ số cây trồng trên đất và ông T có nghĩa vụ hỗ trợ trả cho chị Phạm Thị M 10.000.000 đồng. Thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn nguyện không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên công nhận sự thỏa thuận này.
[4], Về chi phí tố tụng và án phí
+ Về chi phí Tố tụng: Nguyên đơn đã nộp 15.000.000 đồng để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, Tòa án đã chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ hết 7.900.000 đồng. Tại phiên tòa Nguyên đơn có ý kiến tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ này, ý kiến này của nguyên đơn không trái pháp luật, Hội đồng xét xử ghi nhận.
+ Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Văn T được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn chị Phạm Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. chị M có đơn xin giảm án phí nhưng xét thấy chị M có đủ điều kiện nộp án phí vì được ông Phạm Văn T trả cho 10.000.000 đồng nên không chấp nhận giảm án phí cho chị M. Ông Phạm Văn T là người cao tuổi nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Văn T.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 228; Điều 147; khoản 2 Điều 244; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Luật đất đai 1993; Điều 100, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai 2013; Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 19 tháng 8 năm 1991; Nghị định số 2/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Căn cứ Luật P1 và lệ phí; Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14,
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Văn T về việc yêu cầu bị đơn Phạm Thị M trả lại 10481,1m² đất trồng rừng và yêu cầu bị đơn tháo rỡ ngôi nhà tạm.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn T
Buộc chị Phạm Thị M phải có trách nhiệm tháo dỡ, di rời 76,9m hàng rào dây thép gai được lắp đặt trên diện tích đất tranh chấp. (được xác định từ điểm 20A đến điểm 25 của sơ họa biên bản mô tả ranh giới mốc thửa đất tại buổi thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2023), để trả lại cho hộ gia đình ông Phạm Văn T (gồm: Phạm Văn T, Nguyễn Thị P, Phạm Văn T2, Hoàng Thị N1, Phạm Văn C2, Phạm Thị L, Phạm Văn N2, Phạm Thị C3 ) quyền sử dụng diện tích 7518,9m² đất thuộc thửa đất số 10, khoảnh 1, tiểu khu B, tờ bản đồ lâm nghiệp số 02 xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh gồm 02 thửa:
- + Thửa thứ nhất: diện tích 1462,3m² có vị trí nằm phía Bắc của đường bê tông tuyến đường B - T được xác định giới hạn bởi các điểm 20A, 21..29, 29A, 20A của sơ họa biên bản mô tả ranh giới mốc thửa đất tại buổi thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2023 ;
- + Thửa thứ hai: diện tích đất 6056,6m² có vị trí nằm phía Nam của đường bê tông tuyến đường B- T, giáp biển, được xác định giới hạn bởi các điểm 47A, 48...67, 67A, 47A của sơ họa biên bản mô tả ranh giới mốc thửa đất tại buổi thẩm định tại chỗ ngày 19/6/2023.
(Kèm theo biên bản mô tả ranh giới mốc thửa đất ngày 19/6/2023)
-
Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Phạm Văn T và chị Phạm Thị M: ông Phạm Văn T được sở hữu toàn bộ số cây trồng trên 7518,9m² đất tranh chấp; ông Phạm Văn T có nghĩa vụ hỗ trợ, trả cho chị Phạm Thị M 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Bị đơn chị Phạm Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Văn T.
- Về chi phí tố tụng: ghi nhận sự tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 7.900.000 đồng của nguyên đơn ông Phạm Văn T (do anh Phạm Văn C nộp thay), ông Phạm Văn T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
-
Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Nguyên đơn Phạm Văn T, bị đơn Phạm Thị M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/9/2024).
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện V, H huyện V, bà Nguyễn Thị P, anh Phạm Văn T2, chị Hoàng Thị N1, anh Phạm Văn C2, chị Phạm Thị L, anh Phạm Văn N2, chị Phạm Thị C3, anh Nguyễn Văn D và chị Nguyễn Thị Mỹ D1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết,
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Hồng Thắng |
Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 11/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông T khởi kiện yêu cầu bà M trả lại 7518,9m2 đất trông rừng
