|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/DS-ST Ngày 08-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Văn Tuyển.
Ông Nguyễn Thành Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Trâm – Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng N (NHNo&PTNT) Việt Nam ; địa chỉ: Số B L, phường T, Quận B, Thành phố Hà Nội
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H – Trưởng phòng Khách hàng Chi nhánh huyện Tây Hòa tỉnh P (theo văn bản ủy quyền số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019 của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam và văn bản ủy quyền ngày 21/7/2022 của Giám đốc chi nhánh). Có mặt.
- - Bị đơn:
- Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1975; Vắng mặt không có lý do.
- Bà Võ Thị T1, sinh năm 1976. Có mặt.
- Nơi cư trú: Thôn P, H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của người đại diện nguyên đơn: Ngày 18/6/2021, ông Nguyễn Duy T và bà Võ Thị T1 (vợ chồng) do ông T đại diện có ký hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T, tỉnh Phú Yên số tiền 120.000.000 đồng mục đích chăn nuôi bò; thời hạn vay đến ngày 18/6/2022, lãi suất 9,5%/năm, tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký kết ngày 03/6/2020 là quyền sử dụng đất 118m² thửa 1056 tờ bản đồ 36-C tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Tại bản án số 07/2022/HNGĐ-ST ngày 26/01/2022 của TAND huyện Tây Hòa đã tuyên không công nhận ông T và bà T1 là vợ chồng, tuy nhiên chưa giải quyết về nghĩa vụ nợ chung tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T. Theo bà T1 trình bày thì đây là khoản nợ chung trong thời kỳ chung sống như vợ chồng với ông T nên bà đồng ý trả một nữa tiền vay nhưng vì không gặp được ông T để thỏa thuận nên không thỏa thuận được. Tại Biên bản làm việc ngày 07/5/2024, ông T thừa nhận có vay vốn theo đơn khởi kiện của Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T nhưng do không có khả năng trả nợ nên đồng ý việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp ký ngày 03/6/2020.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà T1 đồng ý trả một nữa tiền vay gốc và một nữa lãi cho nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì có căn cứ pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện ngày 09/10/2023, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán tiền nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết; bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 4610 LAV 202102512/HĐTD ký kết ngày 18/6/2021 giữa ông T, bà T1 và NHNo&PTNT Việt Nam -chi nhánh huyện T tỉnh Phú Yên thì ng T, bà T1 có vay vốn tại NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện T tỉnh Phú Yên, số tiền 120.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 9,5%/năm. Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả nợ gốc là 120.00.000 đồng và liền lãi tính đến ngày xét xử 36.246.000 đồng. Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ khi nợ đến hạn thanh toán, vi phạm hợp đồng đã ký kết nên NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện T khởi kiện là có căn cứ chấp nhận.
[3] Tại Bản án HNGĐST số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 26/01/2022 của TAND huyện Tây Hòa tuyên xử không công nhận ông T bà T1 là vợ chồng nên nghĩa vụ trả nợ của ông T, bà T1 là nghĩa vụ chung được xác định theo quy định tại Điều 27, 37, 60 Luật Hôn nhân và gia đình; ông T, bà T1 phải chịu trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ trả nợ vay tín dụng theo hợp đồng nêu trên.
[4] Để đảm bảo giao dịch vay tiền theo Hợp đồng tín dụng, các bên có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4610 LCL202000874 ngày 03/6/2020 thế chấp quyền sử dụng đất 118m² thửa số 1065 tờ bản đồ 36-C và tài sản trên đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 364324 UBND huyện T cấp ngày 23/3/2016 thuộc thôn P, xã H, T, Phú Yên. Xét hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, được chứng thực và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T là đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật nên Hợp đồng có hiệu lực thi hành. Nội dung các bên có thỏa thuận: NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện T tỉnh Phú Yên được quyền yêu cầu xử lý tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông T, bà T1. Do đó yêu cầu về quyền xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng và án phí: Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng; án phí đối với phần nghĩa vụ phải trả theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào 100, 102 Luật Các tổ chức tín dụng 2024; Điều 299, 303 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37, 60 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Nguyễn Duy T và bà Võ Thị T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N - chi nhánh huyện T, tỉnh Phú Yên số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng nợ gốc do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử là 36.246.000 (ba mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng. Phần nghĩa vụ của ông T và bà T1 là bằng nhau, mỗi người phải trả 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng nợ gốc và 18.123.000 (mười tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn) đồng tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử.
- Trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự huyện T tỉnh Phú Yên xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên diện tích đất 118m² thửa số 1065 tờ bản đồ 36-C đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 364324 do UBND huyện T cấp ngày 23/3/2016.
- Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Duy T và bà Võ Thị T1 mỗi người phải chịu 500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 1.000.000 đồng nên ông Nguyễn Duy T và bà Võ Thị T1 mỗi người phải trả lại cho nguyên đơn 500.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Q. Ông Nguyễn Duy T và bà Võ Thị T1 mỗi người phải chịu 3.906.150 đồng án phí KDTM sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn 3.586.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0012144 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên.
- Nguyên đơn và bà Võ Thị T1 được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Duy T được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với Hợp đồng tín dụng 4610 LAV 202102512/HĐTD ký kết ngày 18/6/2021.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Nguyễn Thành Vinh |
Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 11/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
