Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/DS-PT

Ngày: 09/01/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Đồng

Ông Trần Tuấn Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỷ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 434/2023/TLPT-DS, ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023, của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 490/2023/QĐ-PT ngày 23 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1961, bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1963; địa chỉ: 6, đường C, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1985; địa chỉ: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; (theo giấy ủy quyền lập ngày 16/12/2023) có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

2

  1. Người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan: Bà Võ Thị H, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
  2. Người đại diện hợp pháp của ông T1, bà H: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; địa chỉ: Khu phố C, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền lập ngày 28/3/2022) có mặt.

Người kháng cáo: Ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á là nguyên đơn .

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2022 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Đức C trình bày: Theo đơn khởi kiện thì ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á khởi kiện ông Nguyễn Văn T1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Võ Văn D dài 47,45m; Phía Tây giáp đất bà Lê Thị Ơ dài 46,16m; Phía Nam giáp đất ông Đỗ Khắc T2 dài 30,99m; Phía Bắc giáp đường 792 dài 30m. Tổng diện tích 1.794,6m², kết quả đo đạc có diện tích 1.407m². Nguồn gốc đất là do ông Trương Văn T nhận chuyển nhượng của ông Trương Quốc C1 vào ngày 21/4/2003, việc chuyển nhượng hai bên có làm giấy viết tay, ông C1 mua lại của ông Nguyễn Văn B. Khi ông C1 chuyển nhượng thì ông C1 chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông T nhận chuyển nhượng thì hiện trạng đất trũng thấp, nên ông T phải kêu ông Nguyễn Ngọc G đỗ khoảng 80 xe đất, sau khi đỗ đất thì ông T trồng cây tràm. Đến nay ông T chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2018 ông T tiếp tục đi đăng ký thì được Uỷ ban nhân dân (UBND) xã T thông báo diện tích đất này ông Nguyễn Văn T1 đã đăng ký, nên ông T khởi kiện ông T1 tại UBND xã T. Ngày 27/9/2018 UBND xã có giải quyết 1 lần, kết quả không thành. Đến năm 2021 ông T tiếp tục khởi kiện ông T1 tại UBND xã T. Ngày 08-12-2021 UBND xã có giải quyết lần 2, kết quả không thành. Nay ông T, bà Á yêu cầu ông T1, bà H trả diện tích 1.407m² đất nêu trên.

Ngoài ra thì vào năm 2008, ông Nguyễn Văn B1 có tranh chấp với ông Trương Văn T diện tích ngang 25m dài 50m tại Tòa án huyện T. Ngày 01/4/2008, Tòa án hòa giải thì ông Nguyễn Văn B1 xác định phần đất tranh chấp không phải là đất của ông B1. Việc mua bán giữa ông C1 và ông T là hợp pháp, ông B1 rút đơn khởi kiện. Tòa án huyện T Quyết định định chỉ vụ án dân sự số 09/2008/QÐST- DS, ngày 01/4/2008.

3

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị H là bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Hiện tại ông Nguyễn Văn T1 đăng ký quyền sử dụng đất có tứ cận: Phía Đông giáp đất đường 792 dài 30m; Phía Tây giáp đất ông Đỗ Khắc T2 dài 30m; Phía Nam giáp đất bà Lê Thị Ơ dài 55,6m; Phía Bắc giáp đất ông Lê Văn T3 dài 56,5m. Tổng diện tích 1.680,6m², tại thửa số 172, tờ bản đồ 32, loại đất trồng cây lâu năm. Nguồn gốc đất này là ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị H nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Lê Văn T3 vào năm 2008, việc nhận chuyển nhượng có làm giấy viết tay, khi mua hiện trạng đất trũng thấp. Sau đó ông T1 có thuê người đỗ đất. Sau khi đỗ đất thì ông T1, bà H sử dụng từ năm 2008 cho đến nay. Đến năm 2014 thì ông T1, bà H đăng ký quyền sử dụng đất. Ngày 02/8/2015 UBND xã T tổ chức lấy ý kiến khu dân cư thì được Ban quản lý ấp thống nhất cấp đất cho ông T1, bà H, đồng thời UBND xã T đã niêm yết hồ sơ cấp giấy đến ngày 14/01/2016 thì không ai tranh chấp. Sau đó hồ sơ được chuyển đến Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T6 thì ông Trương Văn T tranh chấp nên đến nay chưa được cấp giấy CNQSD đất. Số cây tràm hiện có trên đất là do ông T1, bà H trồng vào năm 2009. Vào năm 2008 thì ông Nguyễn Văn B1 có khởi kiện ông Trương Văn T diện tích đất (24m x 50m) nhưng do chưa xác định được phần đất đang tranh chấp có đúng vị trí đất của mình hay không, nên ông đã rút đơn khởi kiện lại và được Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thụ lý giải quyết, nên Tòa án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó vụ kiện giữa ông B1 đối với ông T chưa có kết quả giải quyết, nên đất này ông T1, bà H nhận chuyển nhượng lại của con ông B1 là hợp pháp. Trong quá trình ông T1, bà H mua đất của bà H2, ông T3 thì ông Lê Văn T3 cung cấp 01 giấy do ông Trương Văn T xác nhận với Phòng địa chính huyện T vào ngày 01/3/2004 với nội dung “ông T không liên quan đến phần đất ông T1, bà H mua của ông B1, bà T4”.

Nay ông T1, bà H cho rằng diện tích đất này đã nhận chuyển nhượng của bà H2, ông T3 là hợp pháp, nên không đồng ý trả cho ông T, bà Á. Ngoài ra không trình bày gì khác.

Tại bản án số 125/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á yêu cầu ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị H trả lại diện tích 1.407m² (có 248,8m³ trong lộ giới quy hoạch) tại thửa 172, tờ bản đồ số 32, đất tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Ngày 18/9/2023 ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á kháng cáo đề nghị

4

cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Á.

Ngày 22/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh kháng nghị: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Á.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về nội dung vụ án:
  2. Ngày 21/4/2003, ông Trương Văn T có làm giấy tay nhận chuyển nhượng của ông Trương Quốc C1 phần đất ngang 20m, dài 50m, tổng diện tích là 1000m², tứ cận: Đông giáp ông Võ Văn D; Tây giáp bà Võ Thị Ơ1 (năm lửa); Nam giáp ông T2; Bắc giáp đường 792 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Nguồn gốc đất ông C1 mua lại của ông Nguyễn Văn B có xác nhận của ông Nguyễn Đức H3 - nguyên cán bộ địa chính xã T.

    Hiện trạng đất lúc mua là đất trũng sâu, ông T phải đổ hơn hơn 80 xe đất nên đất không bị ngập nước, ông có cắm ranh tứ cận và trồng cây tràm vàng từ đó cho đến nay.

    Vào năm 2008, ông Nguyễn Văn B1 có tranh chấp diện tích đất này với ông T tại Tòa án huyện T. Ngày 01/4/2008, hòa giải tại tòa thì đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn B1 xác định phần đất tranh chấp không phải là đất của ông B1, việc chuyển nhượng giữa ông C1 và T là hợp pháp, ông B1 rút đơn khởi kiện. Tòa án huyện T ra Quyết định định chỉ vụ án dân sự số 09/2008/QÐST- DS, ngày 01/4/2008.

    5

    Ông T có làm thủ tục đăng ký để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), thời gian kéo dài không nhận được kết quả. Nhưng ông T vẫn quản lý sử dụng, đến năm 2018, ông có liện hệ UBND xã T để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ thì biết được ông Nguyễn Văn T1 kê khai đăng ký phần đất nêu trên, nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ nên ông T, bà Á khởi kiện yêu cầu ông T1, bà H trả lại phần đất diện tích 1.407m² thửa 172, tờ bản đồ 32.

    Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 cho rằng: Ngày 15/12/2008, ông T1 và bà H có nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn T3, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 (con ông B1) 01 phần đất diện tích ngang 30m x dài 50m, theo sơ đồ chính quy 2013, là diện tích 1.680,6m², thửa 172, tờ bản đồ 32 (là phần đất ông B1 tranh chấp với ông T nêu trên). Nguồn gốc đất ông T3 và bà H2 nhận tặng cho từ ông Nguyễn Văn B1 và bà Dương Thị T5. Giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng. Bên bán đã nhận đủ tiền và bên mua đã nhận đất xong tại thời điểm làm giấy tay mua bán. Vợ chồng ông T1 có cải tạo đất, sang lấp mặt bằng và kê khai đăng ký, được Ủy ban nhân dân xã T thông báo niêm yết thửa đất, không ai khiếu nại, Phòng tài nguyên môi trường đang lập hồ sơ cấp giấy thì ông T tranh chấp khởi kiện ngày 24/9/2018 đến nay tạm dừng việc cấp GCNQSDĐ cho ông T1. Nay ông T1, bà H không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Á.

  3. [2] Xét kháng cáo của ông T, bà Á và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Hội đồng xét xử xét thấy:
  4. Phần đất tranh chấp theo đo đạc hiện trạng sử dụng có diện tích 1.407m², thửa 172, tờ bản đồ 32 (theo bản đồ chính quy 2013, diện tích 1.680,6m²), tọa lạc tại ấp T, xã T đến nay chưa được cấp GCNQSDĐ.

    Ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á trình bày phù hợp với lời khai của ông Trương Quốc C1, ông Nguyễn Văn B: phần đất tranh chấp nêu trên có nguồn gốc của ông B, chuyển nhượng cho ông C1 năm 2002, có sự xác nhận của ông Ngô Đức H4 - nguyên cán bộ địa chính xã T, ông C1 chuyển nhượng cho ông T năm 2003. Khi ông B chuyển nhượng, thì đất có chiều ngang mặt tiền hơn 20m, nhưng làm giấy tay chỉ để 20m, dài 50m, việc chuyển nhượng đã giao đất và nhận tiền đủ.

    Năm 2008, ông T đang sử dụng đất trên thì bị ông Nguyễn Văn B1 tranh chấp, đất tranh chấp có chiều ngang khoảng 24m. Phần đất tranh chấp tuy không thể hiện tứ cận, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 01/4/2008, đại diện của ông Nguyễn Văn B1 xác định: đất tranh chấp không phải là đất của ông B1 và khẳng định việc chuyển nhượng đất giữa ông C1 và ông T là hợp pháp, ông B1 rút đơn khởi kiện, đề nghị ông T làm thủ tục cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định định chỉ vụ án dân sự số 09/2008/QĐST- DS, ngày 01/4/2008. Vì vậy, lời trình bày của ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị H cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc là đất của ông Nguyễn Văn B1 tặng cho ông Lê Văn T3, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 và ông T1, bà H nhận chuyển nhượng từ ông T3, bà H2 vào ngày 10/9/2008 là không có căn cứ. Bản án nhận định việc ông T1, bà H nhận chuyển nhượng của bà H2,

    6

    ông T3 phần đất tranh chấp trên có nguồn gốc đất của ông B1 vào ngày 10/9/2008 là hợp pháp là chưa đánh giá toàn diện chứng cứ.

    Mặc khác ông T trình bày ông mua năm 2003 và năm 2004 tiến hành thuê ông Nguyễn Ngọc G đổ 80 xe đất, ông G xác nhận có đổ đất cho ông T còn ông T1 trình bày có đổ đất nhưng không cung cấp được người đổ đất thuê cho ông T1 và tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/5/2023 ông T1 trình bày không có đổ đất.

    Ngoài ra, theo hồ sơ thể hiện: từ năm 1996 đến năm 2001, ông Nguyễn Văn B1 có tranh chấp quyền sử dụng đất với một số hộ dân khác ở ấp T, xã T tại vị trí khác. Sau đó, ông T có làm bản cam kết ngày 01/3/2004 với nội dung: “Trong sự việc tranh chấp đất đai vừa qua tại ấp T, xã T với ông ba Be, bản thân tôi không dính líu gì với ông ba Be” trong vụ tranh chấp đất đai của ông Nguyễn Văn B1 với các hộ nêu trên, ông T không dính líu gì với ông B1, xác nhận này không có căn cứ cho rằng phần đất này là của ông B1. Tuy nhiên, bản án lại căn cứ vào bản cam kết này cho rằng ông T khẳng định không liên quan đến phần đất đang tranh chấp với ông T1, để bác yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông T1 về việc đòi lại quyền sử dụng đất phần đất nêu trên là không có căn cứ.

  5. [3] Từ những phân tích trên: Có cơ sở xác định phần đất tranh chấp diện tích 1.407m² là của ông T, bà Á. Ông T, bà Á khởi kiện yêu cầu ông T1, bà H trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1.407m² là có căn cứ chấp nhận. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, bà Á và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Tây Ninh.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Á được chấp nhận nên tính án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

    Do yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Á được chấp nhận nên ông T1, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng ông T1, bà H là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của ông T, bà Á được chấp nhận nên ông T1, bà H phải chịu chi phí tố tụng là 32.000.000 đồng. Ông T, bà Á đã tạm ứng số tiền 32.000.000 đồng nên ông T1, bà H phải trả lại cho ông T, bà Á số tiền 32.000.000 đồng.

  7. [4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.
  8. [5] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T, bà Á không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm (do ông T, bà Á thuộc diện miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên không xử lý tiền tạm ứng án phí phúc thẩm).

7

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Ánh.
  • - Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
  • - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 125/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
  • - Căn cứ Điều 100, Điều 101 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á đối với ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
  2. Ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á được quyền sử dụng phần đất diện tích 1.407m² (có 248,8m³ trong lộ giới quy hoạch) tại thửa 172, tờ bản đồ số 32, tọc lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và toàn bộ cây trồng trên đất, có tứ cận: Đông giáp thửa 106; Tây giáp thửa 105; Nam giáp thửa 127; Bắc giáp đường 792.

    Ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án này.

  3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị H có trách nhiệm hoàn trả cho ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng tiền chi phí đo đạc định giá.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T1, bà H được miễn án phí.
  5. Hoàn trả cho ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Á 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007096 ngày 21/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

8

Ông T, bà Á không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm (do ông T, bà Á thuộc diện miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên không xử lý tiền tạm ứng án phí phúc thẩm).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND huyện Tân Châu;
  • - CCTHADS huyện Tân Châu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2023/DS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 11/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị A. - Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 125/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger