|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 11/2021/KDTM-ST Ngày: 01-6-2021 V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Minh Tân và Ông Nguyễn Văn Quỹ
- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố NĐ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố NĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 06/2021/TLST-KDTM ngày 14-01-2021 về tranh chấp "Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST-KDTM ngày 26-4-2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng A Việt Nam; địa chỉ: Số 198 đường TQK, phường LTT, quận HK, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T - chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thị Hồng N - chức vụ: Giám đốc Ngân hàng A Việt Nam - Chi nhánh NĐ (theo Giấy ủy quyền số 01/UQ-VCB-PC ngày 01-01-2020)
- Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hữu D - chức vụ: Trưởng phòng giao dịch YY - Ngân hàng A chi nhánh NĐ (theo Giấy ủy quyền số 73/UQ-NĐI.HCNSNQ ngày 01-12-2020).
- Bị đơn: Ông Dương Xuân H, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1973; cùng nơi cư trú tại: Tổ 2, thị trấn L, huyện YY, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Xuân P, sinh năm 1968, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ 2, thị trấn L, huyện YY, tỉnh Nam Định.
- Bà Phạm Thị C, sinh năm 1970, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Ấp 8, xã NCT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
Tại phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu D có mặt; ông Dương Xuân H, bà Trần Thị Ngọc T, ông Dương Xuân P và bà Phạm Thị C đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện của Ngân hàng A Việt Nam (sau đây được viết tắt là VCB) là ông Nguyễn Hữu D trình bày:
Ngân hàng A Việt Nam - Chi nhánh NĐ và hộ kinh doanh của ông Dương Xuân H và bà Trần Thị Ngọc T đã ký Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 01/2019/HM/NHNT.NDI/11282533, ngày 09-01-2019 và Giấy nhận nợ số 02 ngày 13-12-2019. Theo hợp đồng và giấy nhận nợ VCB Chi nhánh NĐ đã giải ngân cho hộ kinh doanh ông Dương Xuân H và bà Trần Thị Ngọc T số tiền 2.900.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thời hạn vay: Thời hạn vay tối đa 8 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân (ngày 13-12-2019); lãi suất trong hạn 8,5%/ năm và cố định trong suốt thời hạn vay, ngày trả lãi là ngày 26 hàng tháng; lãi suất quá hạn 150% của lãi suất trong hạn. Kỳ trả nợ gốc vào cuối kỳ (ngày 13-8-2020).
Để bảo đảm cho các khoản vay và nghĩa vụ thanh toán ông Dương Xuân H và bà Trần Thị Ngọc T đã ký hợp đồng thế chấp tài sản sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 917111 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Nam Định cấp ngày 05-01-2019, tại Tổ 2, thị trấn L, huyện YY, tỉnh Nam Định đứng tên Dương Xuân H và bà Trần Thị Ngọc T theo Hợp đồng thế chấp số 01/2019/VCB.NDI-TC/11282533 ngày 07-01-2019.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 917112 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Nam Định cấp ngày 05-01-2019, tại Tổ 2, thị trấn L, huyện YY, tỉnh Nam Định, đứng tên Ông Dương Xuân P và bà Phạm Thị C theo Hợp đồng thế chấp số 02/2018/VCB.NDI-TC/11282533 ngày 07-01-2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà T đã trả được lãi trong hạn của hợp đồng là 9.069.349 đồng. Bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ lãi từ ngày 26-02-2020 và nợ gốc từ ngày 13-8-2020. Từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ, VCB đã nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc, đồng thời tạo điều kiện để ông bà trả nợ nhưng ông H và bà T không hợp tác. Do vậy, VCB khởi kiện yêu cầu ông H và bà T phải trả toàn bộ nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 01/2019/HM/NHNT.NDI/11282533 ngày 09-01-2019 và Giấy nhận nợ số 02 ngày 13-12-2019 tính từ khi vi phạm đến hết ngày 01-6-2021. Cụ thể: Nợ gốc 2.900.000.000 đồng; lãi trong hạn 155.714.213 đồng; lãi quá hạn 296.813.014 đồng; tổng cộng là 3.352.527.227 đồng. Buộc ông H và bà T tiếp tục thanh toán toàn bộ nợ lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày tiếp theo của ngày xét xử đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Trường hợp ông H và bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì VCB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm trên; buộc ông H và bà T phải thanh toán các khoản chi phí hợp lý phát sinh liên quan đến việc thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 09-01-2019, ông Dương Xuân H và bà Trần Thị Ngọc T, ký Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 01/2019/HM/NHNT.NDI/11282533 và Giấy nhận nợ số 02 ngày 13-12-2019 với Ngân hàng VCB vay 2.900.000.000 đồng để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh của Hộ kinh doanh. Từ ngày 26-02-2020 đến nay ông H và bà T không trả lãi cho Ngân hàng VCB nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy Ngân hàng VCB đã khởi kiện yêu cầu ông H, bà T phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và lãi quá hạn. Nên thuộc vụ án kinh doanh thương mại và quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 317, 318, 319, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam;
2. Buộc ông Dương Xuân H và bà Trần Thị Ngọc T trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 01/2019/HM/NHNT.NDI/11282533 ngày 09-01-2019 và Giấy nhận nợ số 02 ngày 13-12-2019 tính từ ngày 26-02-2020 đến hết ngày 01-6-2021. Cụ thể: Nợ gốc 2.900.000.000 đồng; lãi trong hạn 155.714.213 đồng; lãi quá hạn 296.813.014 đồng; tổng cộng là 3.352.527.227 đồng (Ba tỷ ba trăm năm mươi hai triệu năm trăm hai mươi bẩy nghìn hai trăm hai mươi bẩy đồng).
|
CÁC THÀNH VIÊN HĐXX |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Công Khánh |
Bản án số 11/2021/KDTM-ST ngày 01/06/2021 của Toà án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 11/2021/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/06/2021
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
