Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE


Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST
Ngày 14 – 4 – 2021
V/v tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Xương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Hồng Thùy
2. Bà Huỳnh Thị Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 07/2021/TLST–HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Trương Ngọc T, sinh năm: 1988;
    Địa chỉ: Số ACN/AH tổ X, ấp AH, thị trấn BT, huyện BT, tỉnh BT.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1998.
    Địa chỉ: Số AUB ấp PH, xã PH, thành phố BT, tỉnh BT.
  • Bị đơn: Bà Ngô Thị Kim Y, sinh năm: 1990
    Địa chỉ: #ABCXYZ, Korea.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm: 1996
    Địa chỉ: Ấp TH 2, xã TT, huyện MCN, tỉnh BT.

(Ông T, bà Y có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2021, văn bản trình bày ý kiến ngày 01/3/2021 và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 02/3/2021, nguyên đơn ông Trương Ngọc T trình bày:

Năm 2017, ông tự nguyện đăng ký kết hôn với bà Ngô Thị Kim Y tại Ủy ban nhân dân thị trấn BT, huyện BT, tỉnh BT theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 29 ngày 17/04/2017. Trong quá trình chung sống, ông và bà Y có 01 con chung là cháu Trương Minh Q, sinh ngày 10/5/2019. Hiện tại, cháu Q đang sống cùng với ông tại xã An Hội, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình ông và bà Y chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cách sống. Từ ngay sau ngày đăng ký kết hôn thì ông và bà Y đã bắt đầu xảy ra cự cãi. Ông đã nhiều lần cố gắng nhằm duy trì mối quan hệ vợ chồng, mong hàn gắn tình cảm nhưng không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, không thể chung sống và hòa hợp trở lại. Ông và bà Y ly thân từ khoảng cuối tháng 6 năm 2019 cho đến nay. Ông nhận thấy cuộc sống vợ chồng ngày càng bất hòa, mâu thuẫn giữa ông và bà Y ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích và kết quả hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ gây thiệt hại cho cả hai bên. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • Về hôn nhân: Ông yêu cầu được ly hôn với bà Ngô Thị Kim Y.
  • Về con chung: Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Minh Q, sinh ngày 10/5/2019 cho đến khi trưởng thành và yêu cầu bà Ngô Thị Kim Y phải cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng.
  • Về tài sản chung: Ông và bà Ngô Thị Kim Y tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Ông và bà Ngô Thị Kim Y không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 29/3/2021 và đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 29/3/2021, bị đơn bà Ngô Thị Kim Y trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Trương Ngọc T về hoàn cảnh tiến tới hôn nhân, việc đăng ký kết hôn, con chung và những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống với ông T. Bà nhận thấy sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống giữa bà và ông T ngày càng gay gắt, hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích và kết quả hôn nhân không đạt được. Bà đồng ý ly hôn với ông T và đồng ý để ông T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà sẽ cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa ông Trương Ngọc T và bà Ngô Thị Kim Y là ly hôn, nguyên đơn ông Trương Ngọc T đang ở Việt Nam, bị đơn bà Ngô Thị Kim Y hiện đang ở nước ngoài (Hàn Quốc) nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Ngọc T và bà Ngô Thị Kim Y tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 29 ngày 17/4/2017 nên hôn nhân giữa ông Trương Ngọc T và bà Ngô Thị Kim Y là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian sống chung ông T và bà Y phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông bà sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay, hiện tại ông T sống ở Việt Nam còn bà Y thì sống ở Hàn Quốc, cách xa nhau về khoảng cách địa lý, hai bên không còn thực hiện nghĩa vụ vợ chồng. Việc ông T yêu cầu ly hôn với bà Y là có cơ sở và bà Y cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Ông Trương Ngọc T và bà Ngô Thị Kim Y đều trình bày ông bà có 01 con chung là cháu Trương Minh Q, sinh ngày 10/5/2019. Ông T và bà Y tự nguyện thỏa thuận để ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và bà Y cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng. Xét thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.

[5] Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nợ chung nên Tòa án không giải quyết.

[6] Về án phí: Ông Trương Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40, Điều 147, Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của ông Trương Ngọc T. Về hôn nhân: Ông Trương Ngọc T được ly hôn với bà Ngô Thị Kim Y.
  2. Về con chung: Ghi nhận việc ông Trương Ngọc T và bà Ngô Thị Kim Y tự nguyện thỏa thuận để ông Trương Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Minh Q và bà Ngô Thị Kim Y cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trương Minh Q đủ 18 tuổi.
  3. Về án phí: Ông Trương Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007353 ngày 16 tháng 3 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

Ông Trương Ngọc T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; bà Ngô Thị Kim Y được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc ủy thác hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre;
- UBND thị trấn Ba Tri;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Bùi Thế Xương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2021/HNGĐ-ST ngày 14/04/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 11/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn ông Trương Ngọc T với bị đơn bà Ngô Thị Kim Yến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger