Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH


Bản án số: 11/2021/HNGĐ-PT
Ngày: 03-6-2021
V/v tranh chấp về chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân, Bà Trương Thị Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2021/TLPT-HNGĐ, ngày 28 tháng 01 năm 2021, về việc: “Tranh chấp về chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 98/2020/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 12 năm 2020, của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2021/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1967, cư trú tại: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T, có mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967, cư trú tại: Tổ 4, khu phố 4, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
  • Bị đơn: Ông Hoàng Quốc P, sinh năm 1967, cư trú tại: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T, có mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn S, sinh năm 1977 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1979, cư trú tại: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Người kháng cáo: ông Hoàng Quốc P là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30-11-2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 01-6-2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Hoàng Quốc P chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1993, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông P có 02 con chung nhưng đều đã chết nên bà đồng ý để ông P quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác để kiếm con nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2010, bà và ông P sống ly thân 06 tháng, sau đó về chung sống lại với nhau, đến năm 2019, bà và ông P tiếp tục sống ly thân cho đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết việc chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn giữa bà và ông P theo quy định của pháp luật.

Về con chung, nợ chung: Không có.

Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống bà và ông P tạo lập được các tài sản chung và bà yêu cầu chia đôi tài sản chung như sau:

Phần đất thứ nhất: Diện tích theo GCNQSDĐ là 2.051 m2, diện tích thực tế là 2.096 m2, tại thửa đất số 134 (thửa đất mới số 34), tờ bản đồ số 63 (tờ bản đồ mới số 22), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do bà và ông P đứng tên. Tài sản trên đất gồm nhà xây cấp 4, mái che, chuồng gà và cây trồng.

Phần đất thứ hai: Diện tích theo GCNQSDĐ là 7.559 m2, diện tích thực tế là 7.525,3 m2, tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có 472 cây cao su.

Phần đất thứ ba: Diện tích theo GCNQSDĐ là 125,7 m2, diện tích thực tế là 125,5 m2, tại thửa đất số 63, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do ông Lê Văn S và bà Hoàng Thị D đứng tên. Bà đồng ý giao cho ông P toàn bộ đất và tài sản trên phần đất này, ông P trả cho bà 1/2 giá trị.

Bị đơn ông Hoàng Quốc P thống nhất về thời gian chung sống nhưng không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của bà X vì cho rằng nguồn gốc đất là của gia đình ông cho riêng ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Hoàng Quốc P là hợp lệ.

[2] Về nội dung: Bà X và ông P chung sống từ năm 1993 không đăng ký kết hôn nên không công nhận là vợ chồng. Về tài sản, mặc dù ông P cho rằng đất là tài sản riêng nhưng trong quá trình giải quyết và tại các biên bản thỏa thuận trước đó, ông P đã thống nhất chia cho bà X một phần diện tích đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chia tài sản chung là có căn cứ.

[3] Đối với khiếu nại của bà K (chị ông P): Hồ sơ cấp giấy chứng nhận thể hiện nguồn gốc đất rõ ràng, bà K đã cho ông P và không có tranh chấp tại thời điểm cấp giấy, nên không có cơ sở chấp nhận khiếu nại của bà K.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Quốc P; Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 98/2020/HNGĐ-ST ngày 29/12/2020.
  2. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị X và ông Hoàng Quốc P là vợ chồng.
  3. Về tài sản chung: Chia cho bà Nguyễn Thị X được quyền sở hữu, sử dụng các phần đất diện tích 91,2 m2; 3.305,7 m2 và 125,5 m2 (kèm tài sản trên đất). Chia cho ông Hoàng Quốc P được quyền sở hữu, sử dụng phần đất diện tích 2.004,8 m2 và 4.219,6 m2 (kèm tài sản trên đất).
  4. Về chi phí tố tụng và án phí: Buộc ông P trả cho bà X 29.430.000 đồng chi phí tố tụng. Quy định mức án phí sơ thẩm và phúc thẩm cho các đương sự theo luật định.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN;
- Phòng KTNV.TAT;
- TAND huyện Tân Châu;
- CCTHADS huyện Tân Châu;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)


Dương Thúy Hằng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2021/HNGĐ-PT ngày 03/06/2021 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

  • Số bản án: 11/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông P kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger