|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K Bản án số: 11/2021/DS-PT Ngày: 01/04/2021 Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Đình Phương |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Trung Thành Bà Lê Thị Hiền |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thiên Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 04 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2020/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2020/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh K bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2021/QĐXX-PT ngày 09 tháng 03 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐ-PT ngày 19/3/2021 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Lệ H, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Thôn Xuân Lập, xã Cam Tân, huyện C, tỉnh K. Có mặt.
- - Bị đơn: Bà Trần Thị M (tên gọi khác: Trần Thị L), sinh năm: 1960. Địa chỉ: Thôn Xuân Lập, xã Cam Tân, huyện C, tỉnh K. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị M là luật sư Lê Văn T – Văn phòng luật sư Văn T thuộc đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt.
- - Người làm chứng: Ông Ôn Hải C, sinh năm: 1953. Địa chỉ: Thôn Xuân Lập, xã Cam Tân, huyện C, tỉnh K. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Lệ H trình bày:
Bà và bà M (tên gọi khác bà L) là người trong thôn làng nên quen biết nhau, bà có tham gia chơi huê do bà M là chủ cái huê. Vào cuối năm 2013, bà M có vay của bà 04 lượng vàng, trả lãi là 1.200.000 đồng/tháng, trả được 4 tháng x 1.200.000 đồng = 4.800.000 đồng, đến khoảng tháng 3/2014 (âm lịch) thì bà M đã trả cho bà 04 lượng vàng đã vay. Việc vay mượn, trả lãi, trả lại vàng hai bên nói bằng miệng, không ghi thành văn bản.
Sau đó, khoảng tháng 9/2014 (âm lịch) bà M tiếp tục mượn lại 02 lượng vàng của bà và hẹn 02 tháng trả lại, hai bên không lập giấy tờ gì. Tuy nhiên, đến hẹn nhưng bà M không trả vàng, lúc đó bà M bể huê nên bà yêu cầu bà M ghi giấy nợ cho bà. Bà M ghi giấy nợ ngày 25/11/2014, gồm nợ huê 40.000.000đồng và mượn 02 lượng vàng. Bà M hứa trả cho bà vào mùa mía năm 2015 (khoảng tháng 3/2015 âm lịch). Tuy nhiên, năm 2015 bà M cũng không trả vàng.
Năm 2018, bà M bán đất đã trả đủ số tiền nợ huê 40.000.000 đồng, bà yêu cầu trả 02 lượng vàng còn nợ, bà M xin trả góp mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi đủ giá trị của 02 lượng vàng, bà không đồng ý. Tuy nhiên, bà M hứa sẽ trả đủ giá trị 02 cây vàng rồi sẽ tính tiếp. Bà M góp được 11 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11/2018, từ tháng 02 đến tháng 7/2019, âm lịch) tương đương số tiền 5.500.000 đồng, sau đó không trả tiền tiếp mà cũng không trả vàng. Bà yêu cầu hoàn trả lại vàng thì bị xua đuổi, thách thức khởi kiện.
Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị M có nghĩa vụ trả lại 02 lượng vàng 9999 đã mượn cuối năm 2014; bà tự nguyện hoàn trả lại cho bà M số tiền 5.500.000 đồng; không yêu cầu trả lãi.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị M trình bày:
Bà tên khai sinh là Trần Thị M (tên gọi khác là L) và bà H cùng là người trong thôn làng nên quen biết nhau, bà H có tham gia chơi huê do bà làm chủ cái huê. Vào cuối năm 2012, đầu năm 2013, bà có vay của bà H 04 lượng vàng, trả lãi mỗi tháng 4.000.000 đồng, thời gian vay từ đầu năm 2013 đến cuối năm 2014, trả lãi tổng cộng 25 tháng x 4.000.000 đồng = 100.000.000 đồng. Cuối năm 2014, bà đã trả bà H 04 lượng vàng. Việc vay mượn, trả lãi, trả vàng hai bên nói bằng miệng, không ghi thành văn bản. Cũng vào cuối năm 2014, bà tiếp tục mượn lại 02 lượng vàng của bà H, việc vay mượn không lập giấy tờ gì.
Ngoài ra, vào cuối năm 2014 và đầu năm 2015 bà bị bể huê, bà H là huê sống nên bà thiếu tiền huê của bà H là 40.000.000 đồng. Gia đình bà bán đất, chồng bà là ông Ôn Hải C đã trực tiếp trả tiền thuê 40.000.000 đồng cho bà H.
Bà không đồng ý trả 02 cây vàng cho bà H vì: số tiến bà trả lãi cho khoản vay 04 lượng vàng năm 2013 + 2014 là 100.000.000 đồng, giá trị 02 lượng vàng năm 2014 tương đương là 60.000.000 đồng; bà cấn trừ vào số tiền lãi đã trả từ năm 2013 + 2014. Như vậy, bà đã trả xong 02 lượng vàng, số tiền còn lại 40.000.000 đồng là phần lãi 04 lượng vàng. Bà có trả cho bà H số tiền 500.000 đồng mỗi tháng, trả vào năm 2018 và 2019, tổng cộng 11 tháng x 500.000 đồng = 5.500.000 đồng, đây là khoản bà trả thêm tiền lãi cho bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 14/8/2020, Tòa án nhân dân huyện C xét xử vụ án. Ngày 26/8/2020, bà Trần Thị M kháng cáo bản án trong hạn luật định nên được xem xét.
[2] Về nội dung: Cuối năm 2013, bà M vay của bà H 04 lượng vàng, khoảng tháng 3/2014 (âm lịch), bà M đã trả cho bà 04 lượng vàng đã vay. Khoảng tháng 9/2014 (âm lịch), bà M tiếp tục mượn lại 02 lượng vàng của bà H. Sau đó, bà M bể huê nên bà H yêu cầu bà M ghi giấy nợ cho bà ngày 25/11/2014 gồm nợ huê 40.000.000 đồng và mượn 02 lượng vàng.
[3] Hội đồng xét xử xét: Xét giấy nhận nợ viết ngày 25/11/2014, bà M xác định giấy nhận nợ là do chính tay bà viết. Quá trình giải quyết vụ án, bà M và bà H đã trình bày thống nhất số vàng cho mượn là vàng nhẫn 96%. Do đó, Bản án sơ thẩm buộc bà M phải trả cho bà H 02 lượng vàng nhẫn 96% là có cơ sở.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Lệ H. Buộc bà Trần Thị M (tên gọi khác là Trần Thị L) phải trả cho bà Phạm Thị Lệ H 02 (Hai) lượng vàng nhẫn 96%.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Lệ H trả lại cho bà Trần Thị M số tiền 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Đình Phương |
Bản án số 11/2021/DS-PT ngày 01/04/2021 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 11/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
