|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1099/2023/DS-PT
Ngày: 29/11/2023
V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Thanh Trúc |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Ngọc Tài |
| Ông Phan Nguyên Nguyên |
- Thư ký phiên tòa:
| Bà Hồ Quỳnh Trâm | |
| Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.
Các ngày 27 và 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 369/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4744/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14743/2023/QĐ-PT ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Văn Q, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: 4 đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: 16A đường TA15, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Hồng Â, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: B đường Đ, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Ông Phan Văn Q – Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 12/12/2022, các ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phan Văn Q (sau đây gọi là nguyên đơn) trình bày:
Năm 2020, Bà Phạm Thị Hồng  (sau đây gọi là bị đơn) muốn khởi kiện Công ty CP Q1 (sau đây gọi là Công ty Q1) tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi nhưng không thông thạo thủ tục. Ngày 11/3/2021, tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn đã ký Giấy ủy quyền số 004610; Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD(sau đây gọi là Giấy ủy quyền số 004610) để ủy quyền cho nguyên đơn giải quyết toàn bộ vụ án. Cùng ngày, hai bên còn lập Hợp đồng làm việc với nội dung sau khi hoàn thành công việc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 50% tổng số tiền được nhận.
Ngày 30/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự số 13/2022/QÐST-LĐ. Quá trình nhận ủy quyền, nguyên đơn đã làm đúng trách nhiệm của người được ủy quyền: Tại phiên tòa
Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát cũng đã xác định chỉ đồng ý với mức lương trong hợp đồng lao động của bị đơn là 9.000.000 đồng/tháng nên nguyên đơn đồng ý hòa giải thành với Công ty Q1 với số tiền 206.055.000 đồng (bao gồm: Tiền lương 19 tháng và tiền BHXH, BHYT do tiền 2 tháng bị đơn đã nhận rồi). Sau đó, Tòa án có yêu cầu sửa lại quyết định về câu chữ, người đại diện của Công ty Q1 cũng không muốn ảnh hưởng về sau, số tiền nhận vẫn vậy nên nguyên đơn đồng ý. Bị đơn đã nhận của Công ty Q1 206.055.000 đồng nhưng lại không trả 50% phí dịch vụ như thỏa thuận. Nhận thấy quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả 103.027.000 đồng là 50% phí dịch vụ và 12.363.240 đồng tiền lãi do chậm trả, tạm tính từ ngày 12/11/2022.
Bị đơn - bà Phạm Thị Hồng  trình bày: Bị đơn xác nhận ngày 11/3/2021 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh có ký Giấy ủy quyền số 004610; Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ủy quyền cho nguyên đơn đại diện tham gia vụ án khởi kiện Công ty Q1 tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và có ký Hợp đồng làm việc với nội dung sau khi hoàn thành công việc bị đơn trả cho nguyên đơn 50% tổng số tiền được nhận. Trong đơn khởi kiện, bị đơn yêu cầu Công ty Q1 nhận người lao động trở lại làm việc và bồi thường tiền lương những ngày không được làm việc dựa trên mức lương thực lãnh. Tuy nhiên, tại phiên tòa khi Công ty Q1 đưa ra ý kiến bồi thường mức lương cơ bản 9.000.000 đồng/tháng thì nguyên đơn đồng ý ngay, không có sự đấu tranh để giành quyền lợi cho bị đơn, đã làm thất thoát tiền của bị đơn. Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh có hai Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cùng số 13 ngày 30/8/2022, trong quyết định thứ nhất thì quyết định Công ty Q1 chấm dứt hợp đồng lao động với bị đơn trái pháp luật nên phải bồi thường; quyết định thứ 2 thì ghi Công ty Q1 hỗ trợ và bị đơn thống nhất chấm dứt hợp đồng lao động. Nguyên đơn đã không làm tròn trách nhiệm
như đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc đã ký nên hợp đồng này không còn hiệu lực. Đồng thời, việc đóng bảo hiểm xã hội cũng phải căn cứ trên mức lương đóng bảo hiểm nhưng Công ty Q1 đã làm sai, mức đóng bảo hiểm cho bị đơn tháng cuối cùng không đúng và nguyên đơn cũng đã đồng ý trên mức lương sai đó. Hai quyết định công nhận thỏa thuận này hoàn toàn khác nhau, không phải chỉ thay đổi câu chữ như nguyên đơn trình bày. Nếu nguyên đơn không đồng ý thì Tòa án không tự ý sửa quyết định được. Bị đơn đã nhận của Công ty Q1 206.055.000 đồng nhưng chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 20.000.000 đồng để công nhận công sức nguyên đơn bỏ ra, nhưng nguyên đơn không đồng ý. Nay nguyên đơn đã khởi kiện ra Tòa thì yêu cầu Tòa án cứ xét xử theo quy định để không thiệt cho bên nào.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 109.867.920 đồng, trong đó: 103.027.000 đồng là giá trị của 50% hợp đồng dịch vụ và 6.840.920 đồng tiền lãi chậm trả từ tháng 11/2022 đến tháng 6/2023.
Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn 20.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không nhận. Nguyên đơn đã không có trách nhiệm trong công việc, vi phạm cam kết nên hợp đồng làm việc ngày 11/3/2021 không có giá trị pháp lý.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2023/DS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả 103.027.000 đồng phí dịch vụ và 6.840.920 đồng tiền lãi do chậm trả phí dịch vụ. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/7/2023, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2023/DS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án nêu trên theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
C đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn xác định: Ngày 11/3/2021, tại Phòng C2, nguyên đơn và bị đơn ký Giấy ủy quyền số 004610 trước, sau đó ký hợp đồng làm việc. Bản án sơ thẩm ghi nội dung nguyên đơn xác nhận hai bên ký hợp đồng làm việc trước, sau đó mới ký Giấy ủy quyền là không đúng. Nay, nguyên đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn trả 6.840.920 đồng tiền lãi do chậm trả phí dịch vụ từ tháng 11/2022 đến tháng 6/2023; chỉ yêu cầu bị đơn trả 100.000.000 đồng phí dịch vụ đã thỏa thuận tại Hợp đồng làm việc ngày 11/3/2021 trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn xác định có sử dụng số điện thoại 0935.606.xxx kết nối Zalo với bị đơn để trao đổi công việc khi giải quyết vụ án giữa bị đơn
với Công ty Q1 tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Những tin nhắn giữa nguyên đơn và bị đơn đã nộp trong hồ sơ vụ án.
Bị đơn không nhớ chính xác hợp đồng làm việc ngày 11/3/2021 được ký trước hay sau Giấy ủy quyền số 004610 cùng đề ngày 11/3/2021 vì thời gian đã quá lâu. Bị đơn xác nhận có sử dụng số điện thoại 0989.627.xxx kết nối Zalo với nguyên đơn để trao đổi thông tin liên quan vụ kiện Công ty Q1. Toàn bộ những tin nhắn nguyên đơn cung cấp trong hồ sơ vụ án là tin nhắn trao đổi giữa nguyên đơn và bị đơn. Ngày 08/11/2022, bị đơn đã nhận số tiền 206.055.000 đồng do Công ty Q1 chuyển. Sau khi bị đơn nhận được số tiền trên, nguyên đơn nhiều lần điện thoại, nhắn tin đòi 50% phí dịch vụ nhưng bị đơn không đồng ý trả do nguyên đơn không làm hết trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn. Ngày 09/11/2022, nguyên đơn có nhắn tin yêu cầu bị đơn trả phí dịch vụ. Lúc 9 giờ 11 phút ngày 09/11/2022, bị đơn có trả lời: “E chưa rảnh, khi nào rảnh e sẽ chuyển, a làm gì mà rối lên vậy”. Sau đó, nguyên đơn có nhắn tin số tài khoản để bị đơn chuyển tiền nhưng bị đơn chưa thực hiện. Trước đây, bị đơn đồng ý hỗ trợ 20.000.000 đồng chi phí xăng xe cho nguyên đơn nhưng tại cấp phúc thẩm bị đơn rút lại ý kiến này. Bị đơn đồng ý cho nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn trả 6.840.920 đồng tiền lãi do chậm trả phí dịch vụ; không đồng ý trả 100.000.000 đồng phí dịch vụ đã thỏa thuận tại Hợp đồng làm việc ngày 11/3/2021, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
Kiểm sát viên – Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Có thông báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án, quyết định xét xử cùng hồ sơ vụ án chuyển Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm; người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Xét thấy kháng cáo của nguyên đơn có cơ sở, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2023/DS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng phí dịch vụ đã thỏa thuận tại Hợp đồng làm việc ngày 11/3/2021; hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi
kiện về việc yêu cầu bị đơn trả 6.840.920 đồng tiền lãi do chậm trả phí dịch vụ. Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn thực hiện trong thời hạn luật định nên được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận.
[1.2]. Việc xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án của Tòa án sơ thẩm phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét kháng cáo của nguyên đơn.
[2.1.1]. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của các đương sự, có cơ sở xác định: Cùng ngày 11/3/2021, nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng làm việc và Giấy ủy quyền số 004610.
[2.1.2]. Theo Hợp đồng làm việc ngày 11/3/2021, Bên A (ông Phan Văn Q), bên B (bà Phạm Thị Hồng Â) thỏa thuận: Bên A là người được ủy quyền thực hiện các công việc liên quan đến việc khởi kiện của bên B về tranh chấp lao động. Thay mặt bên A thực hiện các thủ tục tại Tòa án, tham gia tố tụng: hòa giải từ sơ thẩm đến phúc thẩm, thi hành án (nếu có). Bên A không tính phí trước, việc trả phí được thực hiện ngay khi bên B nhận được bồi thường. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thì bên B không phải trả phí cho bên A. Ngoài ra, hợp đồng làm việc còn quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của bên A, bên B và quy định chung: Mức phí mà bên B trả cho bên A khi hoàn thành công việc là 50% tổng số tiền bên B nhận được. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 116, 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.1.3]. Theo thỏa thuận tại Giấy ủy quyền số 004610, bị đơn ủy quyền cho nguyên đơn được quyền thay mặt và nhân danh bị đơn nộp đơn khởi kiện Công ty Q1 và tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc khởi kiện đối với Quyết định nghỉ việc số/HRD/2021 ngày 25/01/2021 của Công ty Q1 (kèm theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2021) căn cứ theo quy định của pháp luật; thù lao ủy quyền: Ủy quyền này không có thù lao. Ngoài ra, Giấy ủy quyền còn quy định phạm vi ủy quyền, thời hạn ủy quyền ....
[2.1.4]. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn thừa nhận có sử dụng số điện thoại cá nhân 0935.606.xxx và 0989627579 để liên lạc trao đổi tiến độ giải quyết vụ án giữa bị đơn và Công ty Q1. Bị đơn xác nhận các tin nhắn nguyên đơn cung cấp trong hồ sơ vụ án là nội dung trao đổi giữa nguyên đơn và bị đơn khi thực hiện công việc ủy quyền. Đây được xem là nguồn chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1.5]. Bị đơn cho rằng nguyên đơn không thông báo việc đồng ý cho Công ty Q1 thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, ngày 30/8/2022, nguyên đơn có nhắn tin cho bị đơn nội dung: “Đến tháng này là 19 tháng mức 9 triệu và tiền bhyt&bhxh tổng 206 triệu, còn 2 tháng cty trả em khi nghỉ việc”. Bị đơn phản hồi: “Chốt 206tr rồi hả a; khi nào bên cty thi hành án; mức 9tr là mức lương cơ bản à”. Như vậy, bị đơn biết được mức lương thỏa thuận là 9 triệu đồng, không có ý kiến phản đối về số tiền được nhận và hỏi nguyên đơn thời gian Công ty Q1 thi hành án. Do đó, nguyên đơn đã thông báo cho bị đơn biết kết quả của việc thực hiện ủy quyền nên không vi phạm nghĩa vụ của bên được ủy quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 565 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.1.6]. Ngày 15/9/2022, nguyên đơn đến Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nhận Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 13/2022/QÐST-LĐ ngày 30/8/2022, đã chụp hình quyết định trên gửi bị đơn và bị đơn không có ý kiến phản đối các nội dung của quyết định này, đồng thời hỏi nguyên đơn: “Vậy tính từ ngày nay, trong 7 ngày bên kia phải thi hành án hả a”. Từ ngày 10/10/2022, bị đơn nhiều lần yêu cầu nguyên đơn thực hiện thủ tục thi hành quyết định công nhận thỏa thuận nêu trên để được nhận số tiền 206.055.000 đồng.
[2.1.7]. Ngày 08/11/2022, bị đơn đã nhận được số tiền 206.055.000 đồng do Công ty Q1 chuyển. Nguyên đơn đã nhiều lần liên lạc, hẹn gặp bị đơn để yêu cầu trả phí dịch vụ như đã thỏa thuận nhưng bị đơn không thực hiện. Lúc 7 giờ 43 phút ngày 09/11/2022, nguyên đơn nhắn tin yêu cầu bị đơn trả tiền dịch vụ. Lúc 9 giờ 10 phút ngày 09/11/2022, bị đơn phản hồi “E chưa rảnh, khi nào rảnh e sẽ chuyển, a làm gì mà rối lên vậy”. Như vậy, bị đơn thừa nhận việc đại diện của nguyên đơn trong vụ án với Công ty Q1 là có thù lao, khi nào rảnh sẽ chuyển tiền nhưng từ ngày 09/11/2022 đến nay không thực hiện.
[2.1.8]. Mặc dù Hợp đồng làm việc và Giấy ủy quyền số 004610 có ghi nhận khác nhau về mức thù lao nguyên đơn được nhận khi thực hiện công việc ủy quyền. Tuy nhiên, sau khi nguyên đơn và bị đơn ký Giấy ủy quyền số 004610 và Hợp đồng làm việc cùng ngày 11/3/2021, ý chí của hai bên không có sự thay đổi về mức thù lao 50% nguyên đơn được nhận sau khi bị đơn nhận được tiền từ Công ty Q1. Căn cứ khoản 2 Điều 566 Bộ luật Dân sự, bị đơn có nghĩa vụ phải trả phí dịch vụ như đã thỏa thuận với nguyên đơn tại Hợp đồng làm việc ngày 11/3/2021.
[2.1.9]. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả 100.000.000 đồng phí dịch vụ một lần trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên đơn tự nguyện giảm số tiền yêu cầu bị đơn trả từ 103.027.000 đồng thành 100.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên ghi nhận. Từ tháng 11/2022, bị đơn có nghĩa vụ trả phí dịch vụ cho nguyên đơn nhưng không thực hiện nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền trên một lần trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn có nghĩa vụ chịu thuế thu nhập cá nhân đối với số tiền này theo quy định của pháp luật.
[2.2]. Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải 6.840.920 đồng tiền lãi do chậm trả phí dịch vụ từ tháng 11/2022 đến tháng 6/2023.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện này, được bị đơn đồng ý. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện này.
[3]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng nguyên đơn đã vi phạm khoản 1 Điều 565 Bộ luật Dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2023/DS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
[5]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận; nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[6]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
Các Điều 116, 117, 119, 562, khoản 1 Điều 565, các Điều 566, 567, 568, 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn Q. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Buộc bà Phạm Thị Hồng  phải trả cho ông Phan Văn Q số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) phí dịch vụ. Nguyên đơn có nghĩa vụ chịu thuế thu nhập cá nhân đối với số tiền này theo quy định của pháp luật.
1.2. Thi hành một lần trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
1.3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong số tiền nêu trên, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Q về việc yêu cầu bà Phạm Thị Hồng  phải trả số tiền 6.840.920 đồng (sáu triệu tám trăm bốn mươi nghìn chín trăm hai mươi đồng) tiền lãi do chậm trả phí dịch vụ từ tháng 11/2022 đến tháng 6/2023.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Ông Phan Văn Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền 5.384.750 đồng (năm triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn bảy trăm năm mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0008609 ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Bà Phạm Thị Hồng  phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Phan Văn Q được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0023309 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Trúc |
Bản án số 1099/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 1099/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
