Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1099/2024/HS-PT

Ngày 27 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu.

Bà Lê Thị Tuyết Trinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 785/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; bị cáo Nguyễn Thị Trúc M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Thị Trúc M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1085/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thanh H, sinh ngày: 10/12/1977, tại: Thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

    Nơi cư trú: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 05/12; cha: Nguyễn Văn Đ (chết) và mẹ: Nguyễn Thị Tuyết M1 (chết); vợ: Nguyễn Thị Trúc M và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 19/7/2023 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

  2. Nguyễn Thị Trúc M, sinh ngày: 01/01/1976, tại: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

    Nơi cư trú: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 09/12; cha: Nguyễn Văn L và mẹ: Nguyễn Thị N; chồng Nguyễn Thanh H và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bào chữa:

Luật sư Giềng Síu M2, Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H (có mặt).

Luật sư Nguyễn Thanh H1, Đoàn Luật sư tỉnh H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Trúc M (có mặt).

Bị hại:

  1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1965.

    Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  2. Lê Văn N1, sinh năm 1969.

    Nơi cư trú: Khu vực I, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

  3. Hứa Kim T, sinh năm 1974.

    Nơi cư trú: Khu vực I, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965.

Nơi cư trú: Khu vực I, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

Trong vụ án, có bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh H làm nghề xây dựng, nhận thi công công trình nhà ở đã nhiều năm, nhiều nơi trong và ngoài địa bàn thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Đến khoảng năm 2019, do việc làm ăn bị thất bại, nợ nhiều người, mất khả năng thanh toán, nên H đã nảy sinh ý định lên mạng xã hội tìm người đặt làm giấy chứng nhận quyền sử dụng (giấy CNQSDĐ) giả để thế chấp vay tiền của người khác nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền để sử dụng mục đích cá nhân. Đến tháng 03/2023, H cùng vợ là Nguyễn Thị Trúc M bỏ trốn đi khỏi địa phương. Ngày 19/7/2023, nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên H đã đến Công an thành phố N đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội, cụ thể như sau:

  1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1965, nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang:

    Vào khoảng đầu tháng 01/2022, do có quen biết với ông Nguyễn Văn Minh K (con rể của ông B, cùng ngành nghề xây dựng), nên H biết ông B có cho vay tiền thông qua việc nhận thế chấp giấy CNQSDĐ. Do cần tiền trả nợ nên H đã nảy sinh ý định làm giấy CNQSDĐ giả để vay tiền của ông B. H đã lên mạng xã hội tìm người để đặt làm 02 tờ giấy CNQSDĐ giả, H chụp 02 tờ giấy CNQSDĐ (bản photo) thửa đất do cha ruột là ông Nguyễn Văn Đ đứng tên (về thửa đất này trước đó, H đã thế chấp cho bà Đặng Thị H2 để vay số tiền 200.000.000 đồng, đến nay H chưa trả tiền vay để chuộc lại tài sản). Ngoài ra, H còn chụp ảnh của giấy chứng minh nhân dân của mình để đưa thông tin của H lên giấy CNQSDĐ giả nhằm thuận lợi cho việc vay tiền.

    Đến khoảng giữa tháng 01/2022, sau khi nhận được giấy CNQSDĐ giả ghi Nguyễn Thanh H, sinh năm 1977, địa chỉ thường trú: Phường N, thị xã N, tỉnh Hậu Giang có quyền sử dụng thửa số 94, tờ bản đồ 131 và thửa số 44, tờ bản đồ 13, địa chỉ: Ấp C, phường N, thị xã T, tỉnh Hậu Giang thì H liên hệ trao đổi với ông B hỏi vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 03 tháng và thế chấp 02 giấy CNQSDĐ đứng tên H để đảm bảo khoản vay; đồng thời H có photo 02 giấy CNQSDĐ giả giao cho ông B giữ, xem để tiện trao đổi. Đến ngày 27/01/2023, H hẹn ông B ra quán cà phê ở gần nhà H tiếp tục trao đổi việc vay tiền thì ông B đồng ý, đề ra lãi suất là 03%/tháng và phải làm hợp đồng công chứng nhưng do H sợ bị phát hiện giấy CNQSDĐ là giả nên H nói dối với ông B là vay ngắn hạn sợ làm thủ tục công chứng phiền phức thì ông B đề ra lãi suất là 04%/tháng để đảm bảo và yêu cầu H viết giấy biên nhận vay tiền có vợ H cùng ký tên mới đồng ý cho vay và H đồng ý.

    Sau đó, H cùng ông B về nhà của H để giao 02 tờ giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả đứng tên Nguyễn Thanh H cho ông B. Do mắt yếu và viết chữ xấu nên H nhờ Nguyễn Thị Trúc M từ nhà sau lên viết thay H tờ biên nhận thế chấp và ký tên vào giấy này để H vay tiền. Về nội dung trong biên nhận thế chấp là do ông B đọc cho Mơ viết theo nội dung mà H và ông B đã thỏa thuận trước đó và dựa trên thông tin từ 02 tờ giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả mà H đưa cho ông B. Sau khi viết xong, H và M cùng ký tên vào biên nhận thế chấp với tư cách người vay tiền. Sau đó, ông B giao tiền mặt 300.000.000 đồng cho H trước sự chứng kiến của M. Đến hạn 03 tháng, do không có khả năng trả tiền gốc cho ông B như nội dung cam kết nên H thỏa thuận tiếp tục đóng lãi cho ông B, đến lần 13 với tổng số tiền 156.000.000 đồng thì ngưng do H bỏ trốn đi khỏi địa phương.

    Quá trình giúp H ghi biên nhận và trực tiếp ký tên vào giấy vay tiền, Mơ biết được việc H đưa ra thông tin tài sản thế chấp là thông tin gian dối, H không có sở hữu, quản lý bất động sản đem thế chấp vay tiền của ông B nêu trên, nhưng vì thương chồng, thấy H làm ăn thua lỗ, đang cần tiền để trả nợ nên Mơ đã đồng ý giúp sức cho H thực hiện hành vi phạm tội.

  2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của ông Lê Văn N1, sinh năm 1969, nơi cư trú: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang

    Nguyễn Thanh H và vợ chồng ông N1 và bà Nguyễn Thị T1 (chủ Cửa hàng V) có mối quan hệ quen biết do đã hợp tác làm ăn nhiều năm từ việc H mua vật liệu xây dựng của cửa hàng V để thi công công trình. Thời gian đầu, H thực hiện tốt nghĩa vụ thanh toán cho bà T1, tuy nhiên từ đầu năm 2019 đến cuối năm 2022, H làm ăn thua lỗ, mua nợ tiền vật liệu xây dựng của bà T1, tính đến cuối năm 2022 H còn nợ 600.000.000 đồng. Thời điểm này, bà T1 không đồng ý tiếp tục bán vật liệu cho H và yêu cầu phải trả tiền nợ trước đó mới tiếp tục bán.

    Đến tháng 12/2022, trong khi uống nước với ông N1 tại quán ở phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, H có chia sẻ với ông N1 là đang làm thủ tục nâng hạng mức vay vốn ngân hàng lấy tiền làm ăn và trả nợ cho bà T1 nhưng không được ngân hàng giải quyết nên H không có tiền trả tiền nợ cho bà T1. Nghe vậy, ông N1 trao đổi với H là có giấy CNQSDĐ đứng tên Nguyễn Thanh H thì thế chấp cho ông N1 để làm tin, ông N1 sẽ vay tiền người khác để cho H vay lại với lãi suất là 02%/tháng thì lúc đó H nảy sinh ý định làm giả giấy CNQSDĐ đứng tên Nguyễn Thanh H để thế chấp, vay tiền của ông N1, nên H khẳng định với ông N1 là H có đứng tên giấy CNQSDĐ và hỏi vay ông N1 số tiền 500.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 02%/tháng, hứa hẹn khi nào nhận được tiền thi công công trình sẽ trả lại tiền gốc và lãi sớm thì ông N1 đồng ý. Sau đó, H liên hệ với bên làm giấy tờ giả và chụp hình, gồm: 01 giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn khác liền với đất số CH-01210 (bản sao y), thửa đất này H đã thế chấp vay vốn tại Ngân hàng A1 thành phố Ngã Bảy từ năm 2013; 01 giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn khác liền với đất số CH 01819 bản photo. Năm 2018, H đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2.

    Sau khi nhận được giấy CNQSDĐ giả dựa theo hai mẫu giấy nói trên, đến ngày 13/12/2022, H đem 02 giấy CNQSDĐ giả đưa cho ông N1, kèm theo 01 bản sao y Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của giấy số CH-01210 nêu trên để làm tin (đây là bản sao y từ giấy thật do H sao y lúc vay ngân hàng vào năm 2013), H có viết tay biên nhận thế chấp lên tờ giấy chứng nhận sao y này xác nhận có nhận 500.000.000 đồng từ ông N1, H đã sử dụng số tiền 400.000.000 đồng để trả tiền nợ vật tư cho bà T1. Đến ngày 14/12/2022, H tiếp tục liên hệ ông N1 để vay thêm số tiền 200.000.000 đồng thì ông N1 đồng ý, H sử dụng số tiền 100.000.000 đồng để trả tiền nợ vật tư cho bà T1. Tổng cộng H nhận từ ông N1 số tiền 700.000.000 đồng, sau đó H đóng lãi mỗi tháng 14.000.000 đồng, đóng được 03 lần với tổng số tiền 42.000.000 đồng thì ngưng. Đến nay, H chưa bồi thường, khắc phục cho ông N1.

  3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Hứa Kim T, sinh năm 1974, nơi cư trú: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang:

    Nguyễn Thanh H có nhận thi công nhà ở cho ông T. Do cần tiền trả tiền nhân công và trả nợ cũ nên H nảy sinh ý định dùng giấy CNQSDĐ giả để vay tiền nhằm chiếm đoạt tài sản của ông T. H đã liên hệ bên nhận làm giấy giả để làm 01 tờ giấy CNQSDĐ giả và chụp 01 tờ giấy CNQSDĐ giả bản photo, đất này là của H đứng tên trước đây (H mua của bà Trương Thị N2 vào khoảng năm 2019 đến năm 2021 đã bán cho ông Ngô Thanh L1).

    Sau khi nhận được giấy CNQSDĐ giả (giấy ghi tên bà Trương Thị N2, địa chỉ thửa đất tại P, Cần Thơ và phần nội dung thay đổi có ghi chuyển nhượng sang cho H đứng tên). Đến khoảng đầu tháng 01/2023, H hỏi vay ông T số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 03%/tháng, mỗi tháng đóng 12.000.000 đồng và thế chấp 01 giấy CNQSDĐ đứng tên Nguyễn Thanh H để làm tin, đảm bảo khoản vay thì ông T đồng ý và yêu cầu H phải làm hợp đồng công chứng hoặc có vợ H cùng ký tên xác nhận mới đồng ý cho H vay. Đến ngày 19/01/2023, H đánh máy trước 01 tờ giấy vay tiền với nội dung như đã thỏa thuận với ông T và đưa cho M ký tên vào ở phần người vay tiền. Sau đó, H giao tờ giấy CNQSDĐ giả và nhận số tiền 400.000.000 đồng từ ông T. H đóng lãi cho ông T 02 lần với tổng số tiền là 24.000.000 đồng thì ngưng.

    Quá trình ký tên vào giấy vay tiền, Nguyễn Thị Trúc M nhận thức được trách nhiệm của bản thân là phải kiểm tra nội dung, đánh giá tính pháp lý của giấy vay tiền trước khi đồng ý ký tên và phải chịu trách nhiệm trước việc ký tên xác nhận của bản thân. Mặc khác, việc ký tên vay tiền ở trường hợp ông T diễn ra sau trường hợp của ông B trong khi biết rõ việc vay tiền của ông B có yếu tố gian dối, trái pháp luật nhưng không ngăn chặn tội phạm mà giúp sức, tạo điều kiện thuận lợi cho H thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông T.

Tại Kết luận giám định số 589/KL-KTHS, ngày 27/6/2023 của Phòng K1, Công an tỉnh H, kết luận:

  • “1- Chữ ký mang tên Nguyễn Đăng H3, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Ngọc T4 trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A5 so với với chữ ký (tương ứng) của Nguyễn Đăng H3, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Ngọc T4 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M12 không phải do cùng một người ký ra.
  • 2- Hình dấu tròn “U.B.N.D THỊ XÃ NGÃ BẢY-TỈNH HẬU GIANG” ký hiệu A1, A2 trên tài liệu cần giám định so với hình dấu tròn “U.B.N.D THỊ XÃ NGÃ BẢY-TỈNH HẬU GIANG” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • 3- Hình dấu tròn “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG-TỈNH HẬU GIANG” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3, A4 so với hình dấu tròn “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG-TỈNH HẬU GIANG” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M7, M8, M9 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • 4- Hình dấu tròn “CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TX. NGÃ BẢY” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 so với hình dấu tròn “CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TX.NGÃ BẢY” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M10, M11, M12 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • 5- Phôi Giấy CNQSDĐ đất số CT281819; CT281820; BM224768; BR997860; U950192 trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A5 là giả”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; bị cáo Nguyễn Thị Trúc M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Căn cứ Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chấp hành là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/7/2023.

  2. Căn cứ Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc M 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 22 và 25/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị Trúc M và Nguyễn Thanh H có đơn kháng cáo cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, các bị cáo H, Mơ giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và trình bày:

  • Bị cáo H không phải là người ăn chơi, bị cáo có giúp cho một số người ở địa phương có công ăn việc làm, bị hại cũng đã có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo.
  • Bị cáo M không biết việc làm giả giấy CNQSDĐ, bị cáo chỉ ghi lại nội dung do H đọc. Con bị cáo còn nhỏ, cha mẹ già. Bà con hàng xóm có viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Hội đồng xét xử và các bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp lệ, đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, xử phạt bị cáo H 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chấp hành là 15 (mười lăm) năm tù, là đúng pháp luật; xử phạt bị cáo M 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tại phiên tòa, các bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết nào mới làm căn cứ giảm hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo H trình bày:

Thống nhất về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, kiếm tiền để bồi thường thiệt hại cho các bị hại.

Luật sư bào chữa cho bị cáo M trình bày:

Bị cáo M không đồng ý với mức hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm vì bị cáo bị chồng (H) đánh đập ép buộc, viết theo lời H đọc. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo M được bà con làng xóm làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, gia đình có truyền thống cách mạng, bị cáo chưa có tiền án tiền sự; gia đình túng thiếu, con còn nhỏ; bị cáo là lao động chính trong gia đình; các bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo H, M đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Các bị cáo kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H, M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu tại bản án sơ thẩm. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Vì muốn có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên từ khoảng tháng 01/2022 đến tháng 02/2023, bị cáo Nguyễn Thanh H đã lên mạng xã hội tìm người để đặt làm 05 giấy CNQSDĐ giả đứng tên Nguyễn Thanh H, sinh năm 1977, địa chỉ thường trú: Phường N, thị xã N, tỉnh Hậu Giang. Sau đó, H đem đi thế chấp vay của ông Nguyễn Văn B 300.000.000 đồng, ông Lê Văn N1 700.000.000 đồng và ông Hứa Kim T 400.000.000 đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của 3 bị hại là 1.400.000.000 đồng.

Mặc dù, bị cáo Nguyễn Thị Trúc M biết H đưa ra thông tin tài sản thế chấp để vay tiền của người khác là không đúng sự thật, nhưng bị cáo M vẫn đồng ý giúp sức cho bị cáo H ghi biên nhận tiền và trực tiếp ký tên vào giấy vay tiền để các bị hại tin tưởng giao tiền, tạo điều kiện cho bị cáo H chiếm đoạt tiền của bị hại với tổng số tiền 1.400.000.000 đồng.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự quản lý hành chính và tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

[5] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Xét kháng cáo của các bị cáo H, M, thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; xử phạt bị cáo H 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Xử phạt Nguyễn Thị Trúc M 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H, M cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, hình phạt tù của bản án sơ thẩm nêu trên đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

[7] Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị Trúc M, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo H, M phải chịu án phí phúc thẩm.

[8] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Thị Trúc M.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
  3. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; bị cáo Nguyễn Thị Trúc M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  4. Căn cứ Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chấp hành là 15 (mười lăm) năm tù.
    2. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/7/2023.
    3. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh H để đảm bảo thi hành án.
  5. Căn cứ Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017),
    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc M 07 (bảy) năm tù.
    2. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  6. Án phí hình sự phúc thẩm:

    Bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Thị Trúc M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  7. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND Hậu Giang (3 bản);
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Công an tỉnh Hậu Giang;
  • - TTG công an tỉnh Hậu Giang (2 bản);
  • - Bị cáo tại ngoại;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: VP (5), Hồ sơ (2), (LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1099/2024/HS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 1099/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger