|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1099/2024/HC-PT
Ngày: 26 - 9 - 2024
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính
và hành vi hành chính.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Phan Văn Yên
Ông Phạm Trí Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 634/2024/TLPT-HC ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1078/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Vương Thị Bích L, sinh năm 1960; Địa chỉ: C, Quốc lộ A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An. (có mặt)
Người đại diện uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Phụng C, sinh năm 1968 và ông Phạm Công M, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ: Tầng D, D N, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Phan Hồng V và Luật sư Lê Văn T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Công ty L1, Tầng D, D N, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt Luật sư Phan Hồng V)
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.
- Chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T: Ông Võ Hồng T1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T:
- + Ông Hồ Hoài V1, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T. (có mặt)
- + Ông Phan Lê M1, chức vụ: Quyền Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố T. (có mặt)
3/. Chủ tịch UBND tỉnh L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh: Ông Trần Thanh S, chức vụ: Phó Phòng Quản lý đất đai – Sở T2 tỉnh.
- Người kháng cáo: Bà Vương Thị Bích L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện bà Vương Thị Bích L trình bày:
Ngày 10/12/2018 Phó Chủ tịch UBND thành phố T ký các quyết định số 5263/QĐ-UBND, Quyết định số 5278/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 và Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc thu hồi đất và phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thị Bích L. Tổng diện tích bị thu hồi là 356m² đất trong đó bao gồm đất để thực hiện Dự án Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V, phần làm đường (phạm vi tối đa 33m) và thu hồi thêm phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá.
Các quyết định thu hồi đối với bà Vương Thị Bích L với lý do thu hồi để thực hiện dự án đường vành đai thành phố T nhưng lại bao gồm cả phần đất nằm ngoài dự án với mục đích thu hồi để bán đấu giá tạo nguồn vốn đầu tư dự án là không đúng với tinh thần Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 23/5/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh L về chủ trương đầu tư đường vành đai thành phố T, theo Nghị quyết thì phạm vi dự án là 33m và dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách tỉnh để đầu tư.
Đất bị thu hồi để bán đấu giá là mang mục đích thương mại không thuộc đổi tượng bắt buộc phải thu hồi theo Luật đất đai. Việc thu hồi đất vì mục đích thương mại phải có dự án tách biệt rõ ràng và phải được triển khai thực hiện theo một trình tự nhất định theo quy định của pháp luật về đất đai trước khi ban hành quyết định thu hồi đất. Vì vậy, các quyết định thu hồi đất với lý do thu hồi đất là làm đường vành đai nhưng lại thu thêm đất để bán là vi phạm nghiêm trọng luật đất đai, xâm phạm quyền lợi hợp pháp chính đáng của người bị thu hồi đất. Các quyết định thu hồi đất ban hành khi UBND thành phố T chưa xác định diện tích thu hồi, giá trị quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và thiếu các khoản hỗ trợ theo quy định.
Các quyết định áp dụng đơn giá bồi thường quá thấp so với giá thực tế tại thời điểm ban hành quyết định, không đủ bù đắp thiệt hại cho người bị thu hồi đất nếu giao phần đất làm đường vành đai.
Bà L đã gửi đơn khiếu nại lần 2 đến chủ tịch UBND tỉnh L. Ngày 20/11/2019 Chủ tịch UBND tỉnh L đã giải quyết khiếu nại lần 2 bởi Quyết định số 4316/QĐ-UBND ngày 20/11/2019. Quyết định trên có nội dung là Chủ tịch UBND tỉnh L quyết định yêu cầu Chủ tịch UBND thành phố T điều chỉnh Quyết định số 5281/QĐ-UBND ngày 04/6/2019 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vương Thị Bích L.
Ngày 12/4/2022, bà L có gửi văn bản yêu cầu UBND thành phố T xử lý quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 4316/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L, đồng thời yêu cầu không thu hồi mà cho bà L được giữ lại phần đất 20m dài sau phạm vi làm đường nhưng UBND thành phố T vẫn không có văn bản trả lời. Ngày 07/7/2002, UBND thành phố T ra Quyết định cưỡng chế thu hồi đất số 2034/QĐ-UBND cưỡng chế thu hồi đất đối với các thửa đất bà L đang sử dụng.
Bà L đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An: Hủy các Quyết định số 5263/QĐ-UBND; Quyết định số 5278/QĐ-UBND ngày 10/12/2018, Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 2581/QĐ-UBND, Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 4316/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L, Quyết định cưỡng chế thu hồi đất số 2034/QĐ-UBND của UBND thành phố T.
Tại Văn bản số 1188/UBND-NCTCD ngày 21/02/2023 của người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh L có nội dung như sau:
Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ bà Vương Thị Bích L:
Ngày 07/5/2010, bà Vương Thị Bích L được UBND thành phố T cấp Giấy CNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 075333 gồm thửa đất số 1005 có diện tích 500m², tờ bản đổ số 04, loại đất trồng cây hàng năm khác; tọa lạc xã B, thành phố T, tỉnh Long An.
Ngày 03/11/2011, bà Vương Thị Bích L được UBND thành phố T cấp Giấy CNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 825699 gồm thửa đất số 1.137 có diện tích 249m², tờ bản đồ số 04, loại đất ở tại nông thôn; tọa lạc xã B, thành phố T, tỉnh Long An (chuyển mục đích sử dụng đất, phần diện tích còn lại là 261m² là đất trồng cây hàng năm khác).
Ngày 29/11/2017, Trung tâm D kết hợp với Trung tâm P (nay là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố T) và UBND xã B tiến hành đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi đối với hộ bà Vương Thị Bích L với thửa đất số 1005, tờ bản đồ số 4, diện tích giải tỏa 201m², loại đất BHK, thửa đất số 1137, tờ bản đồ số 4, diện tích giải tỏa 155m², loại đất ONT và tài sản trên đất.
Ngày 20/11/2017, UBND thành phố T ban hành Thông báo số 466/TB-
UBND về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án đường Vành đai thành phố và cầu bắc qua sông V Tây đối với hộ bà Vương Thị Bích L; tổng diện tích đất thu hồi 356m².
Ngày 10/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5263/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L; diện tích: thu hồi 201m² thuộc một phần thửa 1005, tờ bản đồ số 4, loại đất HNK; địa điểm: Tại xã B, thành phố T, tỉnh Long An.
Ngày 10/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5278/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L; diện tích: Thu hồi 155m² thuộc một phần thửa 1137, tờ bản đồ số 4, loại đất ONT; địa điểm: Tại xã B, thành phố T, tỉnh Long An.
Ngày 13/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5856/QĐ-UBND về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thị Bích L. Tổng số tiền 629.353.000 đồng (kèm theo bảng chiết tính lập ngày 07/12/2018).
Kết quả kiểm tra việc thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ tái định cư của hộ bà Vương Thị Bích L:
Tổng diện tích đất thu hồi: 356m² là đúng chủ trương của UBND tỉnh và đúng với Giấy CNQSDĐ cũng như thực tế sử dụng.
Tổng tiền bồi thường, hỗ trợ của hộ bà Vương Thị Bích L là 629.352.604 đồng gồm:
- Giá trị quyền sử dụng đất 614.696.604 đồng.
- Hỗ trợ chi phí san nền 5.000.000 đồng.
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề 8.456.000 đồng.
- Tài sản trên đất 1.200.000 đồng.
Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (cây chuối) là đúng theo Quyết định số 57/2016/QĐ-UBND ngày 18/10/2016 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định đơn giá bồi thường thiệt hại đối với cây trồng, vật nuôi là thủy sản khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An; Quyết định số 54/2017/QĐ-UBND ngày 25/7/2017 của UBND tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đơn giá bồi thường thiệt hại đối với cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An, Quyết định số 897/QĐ-UBND ngày 23/3/2018 của UBND tỉnh L và Quyết định số 897/QĐUBND ngày 23/3/2018 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt Phương án hệ số điều chỉnh giá đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện, Dự án thành phần 3: đoạn từ Km 14+500 giao với đường T (đường N nối dài) đến ngã năm T (Km 22 + 350) và cầu bắc qua sông V thuộc Dự án đường V thành phố T. Địa điểm: xã B, xã N và Phường E, thành phố T.
Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề cho hộ bà Vương Thị Bích L là thực hiện đúng theo Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An và Quyết định số 897/QĐ-UBND ngày 23/3/2018 của UBND tỉnh L.
Tuy nhiên, UBND thành phố T chưa thực hiện chế độ hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ bà Vương Thị Bích L là chưa đúng theo quy định theo Quyết định 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An và Quyết định số 5654/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 của UBND thành phố T ban hành về việc phê duyệt Phương án bồi thưởng, hỗ trợ và tái định cư số 3207/PA-HĐBT ngày 07/12/2018 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố T do hộ bà Vương Thị Bích L bị thu hồi 80,40% diện tích đối với loại đất nông nghiệp (đất hàng năm khác).
Ngày 20/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4316/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Vương Thị Bích L, trong đó có nội dung giao Chủ tịch UBND thành phố T thực hiện bồi thường bổ sung cho bà Vương Thị Bích L đối với nội dung thiếu, thực hiện hỗ trợ chế độ ổn định đời sống và sản xuất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, đề nghị Tòa án bác yêu cầu.
Tại Văn bản số 456/UBND-NC ngày 13/02/2023 của người bị kiện Chủ tịch và UBND thành phố T, tỉnh Long An có nội dung như sau:
Trình tự thủ tục thực hiện kê biên, thu hồi đất và bồi thường đối với bà Vương Thị Bích L.
Ngày 19/9/2017, UBND thành phố có Thông báo về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L để thực hiện dự án thành phần 3: Đoạn từ nút giao ĐT.827A (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn từ Km14+500 giao với đường tỉnh 827A (đường N nối dài) đến Km17+500 thuộc dự án đường vành đai.
Ngày 22/9/2017, Hội đồng bồi thường tái định cư thành phố triển khai chủ trương thu hồi đất và có kiểm đếm đất đai tài sản trên đất để bồi thường giải phóng mặt bằng của bà Vương Thị Bích L; thông báo thu hồi đất dự án thành phần 3: Đoạn từ nút giao ĐT.827A (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đọan (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn từ Km14+500 giao với đường tỉnh 827A (đường N nối dài) đến Km17+500 thuộc dự án đường vành đai thành phố T. Địa điểm: xã B, thành phố T. Trong cuộc họp triển khai này, Hội đồng bồi thường tái định cư có lập danh sách hộ dự họp, các hộ nhận thông báo thu hồi đất, tờ khai trong đó có các hộ tham dự.
Ngày 29/11/2017, Trung tâm phát triển quỹ đất tại thành phố T lập biên bản đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi đối với: bà Vương Thị Bích L.
Ngày 10/12/2018, UBND thành phố ban hành Quyết định số 5278/QĐ-
UBND về việc thu hồi một phần thửa 1137, tờ bản đồ số 4, loại đất ONT, diện tích 155m², Quyết định số 5263/QĐ-UBND về việc thu hồi một phần thửa 1005, tờ bản đồ số 4, loại đất HKN, diện tích 201m² bà Vương Thị Bích L và Quyết định 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thị Bích L.
Quá trình giải quyết ý kiến của bà Vương Thị Bích L:
Hội đồng bồi thường đã có CV số 3406/UBND-HĐBT ngày 14/12/2018 V/v trả lời ý kiến của hộ như sau:
“Về chủ trương thu hồi đất 20m mỗi bên: Thực hiện theo Quyết định 362/QĐ-UBND ngày 26/01/201/8 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt dự án đầu tư đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T); Quyết định 1992/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 của UBND tỉnh điều chỉnh chủ đầu tư dự án từ “UBND thành phố T” sang “Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh” và Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 24/4/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh L về việc điều chỉnh Nghị quyết số 215/NQ-HĐND về đầu tư dự án đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V: “1. Dự án đường vành đai thành phố T: - Bổ sung phạm vi đầu tư thực hiện giải phóng mặt bằng toàn tuyến phạm vi 73m bao gồm: Phần đường là 33m, phân khu chức năng rộng 40m (mỗi bên 20m). Quy hoạch phân khu chức năng đã được duyệt, công bố và thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin và công bố tại trụ sở UBND xã phường nơi có dự án”.
Về việc yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất.
Chủ trương thu hồi phần 20m x 2 bên đường:
Ngày 21/9/2016, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 3855/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đường V thành phố T, và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T.
Ngày 05/7/2017, UBND tỉnh L ban hành Thông báo số 290/TB-UBND kết luận của UBND tỉnh tại buổi làm việc với Sở ngành tỉnh và nhà đầu tư xây dựng các dự án thành phần thuộc dự án đường vành đai thành phố T và dự án cầu bắc qua sông V.
UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 về việc phê duyệt dự án đầu tư đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T). Tại Quyết định nêu:
“Đoạn từ Quốc lộ A- Đ.827A (km9+400 đến Km14+500)
Qui mô mặt cắt ngang đường theo tiêu chuẩn đô thị (TCXDVN104-2007) với nền đường rộng là 33m. Qui mô phân khu chức năng rộng 20mx2 bên. Tổng cộng phạm vi cắm cọc giải phóng mặt bằng phần phân khu chức năng và phần nền đường là 73m”.
Ngày 30/8/2018, UBND thành phố ban hành Thông báo số 212/TB-UBND
về chủ trương thu hồi đất và triển khai kiểm đếm đất đai tài sản trên đất để giải phóng mặt bằng dự án thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A thuộc dự án đường vành đai thành phố tân A; địa điểm: Phường T, xã A và Phường G; Chủ đầu tư: Sở G, tại mục 5 có ghi: “Thiết kế đường đô thị, nền đường 33m, dự kiến phát triển quỹ đất mỗi bên 20mx2 = 40m”.
Ngày 11/9/2017, UBND thành phố T ban hành Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A thuộc dự án đường vành đai thành phố T; địa điểm: Xã A, thành phố T.
Về chủ trương thu hồi đất 20m: Phần mở rộng (20m x 02 bên) dọc tuyến đường V thành phố T không dùng vào mục đích phân lô bán nền, mà để tạo quỹ đất sạch để triển khai xây dựng các phân khu chức năng theo quy hoạch được duyệt; cụ thể phần 20m x 02 bên này sẽ trở thành đất công do nhà nước quản lý và nhà nước sẽ công bố đấu giá công khai gắn với thực hiện đầu tư các phân khu chức năng nhằm tạo nguồn thu đầu tư đường Vành đai phạm vi 33m; phần 20m x 02 bên này sẽ thực hiện theo quy hoạch chi tiết từng phân khu theo ý tưởng quy hoạch được UBND thành phố T phê duyệt.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:
Căn cứ Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1/. Đình chỉ vụ án đối với các yêu cầu:
- Hủy một phần Quyết định số 5263/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường.
- Hủy một phần Quyết định số 5278/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường.
- Hủy Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT
827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
Hủy Quyết định số 4316/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của bà Vương Thị Bích L; ngụ số C Quốc lộ A, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vương Thị Bích L đối với các yêu cầu:
- 2.1/ Hủy Quyết định số 2034/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
- 2.2/ Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33 m để thực hiện bán đấu giá.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 21/5/2024, người khởi kiện bà Vương Thị Bích L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Vương Thị Bích L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vương Thị Bích L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện UBND thành phố T, Chủ tịch UBND thành phố T đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà Vương Thị Bích L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Vương Thị Bích L làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Vương Thị
Bích L xác định lại yêu cầu khởi kiện: Hủy một phần Quyết định thu hồi đất số 5263/QĐ-UBND, một phần Quyết định số 5278/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 của UBND thành phố T đối với phần diện tích 20m x 2m; Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ; Quyết định giải quyết khiếu nại số 4316/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh L; Quyết định số 2034/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
[2.2] Đối với Quyết định thu hồi đất số 5263/QĐ-UBND, số 5278/QĐ-UBND, Quyết định phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ số 5856/QĐ-UBND, năm 2018 bà L đã nhận được và có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố T, Chủ tịch UBND tỉnh L. Ngày 20/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 4316/QĐ-UBND, bác khiếu nại của bà L đối với các quyết định nêu trên. Quyết định đã được giao cho bà L vào năm 2019. Đến ngày 10/11/2022, bà L mới khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định trên thuộc trường hợp hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này là phù hợp với quy định pháp luật.
[2.3] Đối với yêu cầu buộc UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33 m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá và hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất, thấy rằng:
UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án đường V và cầu bắc qua sông V Tây theo chủ trương của Hội đồng nhân dân tỉnh L và UBND tỉnh L phê duyệt. Trong quá trình thực hiện dự án có điều chỉnh bổ sung việc thu hồi từ 33m làm đường Vành đai và thu hồi thêm 20m x 2 bên đường V để thực hiện bán đấu giá làm các phân khu chức năng đã được phê duyệt. Việc điều chỉnh này đã được Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh L thông qua và được Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 và số 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 của UBND tỉnh L quyết định phê duyệt dự án. Do đó, bà L cho rằng chỉ đồng ý việc thu hồi 33m làm đường mà không đồng ý thu hồi thêm 20m x 2 bên là trái chủ trương của địa phương về việc thu hồi đất nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội theo Điều 62 Luật Đất đai.
UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5263/QĐ-UBND và Quyết định số 5278/QĐ-UBND cùng ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà L; Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà L là đúng theo quy định tại Điều 62, Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai. Cụ thể, có thông báo chủ trương thu hồi đất, việc điều chỉnh diện tích thu hồi và phạm vi thu hồi từ 33m đường Vành đai và thu hồi 20m x 2 bên là thực hiện đúng theo các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh gồm Nghị quyết số 215/NQ-HĐND ngày 18/11/2015, Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 24/4/2018, Nghị quyết số 46/NQ-HĐND ngày 26/10/2018 và Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 23/5/2019. Công văn số 3493/UBND-KT ngày 13/8/2018, của UBND tỉnh L về việc điều chỉnh địa điểm, phạm vi dự án đường V và cầu bắc
qua sông V Tây là theo sự điều chỉnh và phê duyệt của HĐND tỉnh L và UBND tỉnh L. Do đó, theo nội dung các văn bản nêu trên thì dự án đường Vành đai với phạm vi thu hồi là 73m (trong đó 33m làm đường Vành đai và 20m x 02 bên là tạo quỹ đất sạch để quy hoạch phân khu chức năng). Bà L cho rằng thu hồi thêm 20m x 2 bên phải tách thành 02 dự án để bồi thường là không có cơ sở chấp nhận.
Bà L có khiếu nại quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đến UBND thành phố T. Ngày 04/6/2019 Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2581/QĐ-UBND trả lời khiếu nại cho bà L. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố T, bà L khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh L, ngày 20/11/2019 Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 4316/QĐ-UBND. Do các quyết định nêu trên đã có hiệu lực pháp luật và bà L không chấp hành, không bàn giao đất thu hồi nên Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 2034/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà L là đúng quy định tại Điều 69 và Điều 71 Luật Đất đai. Trình tự cưỡng chế được thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai. Bà L cho rằng quyết định cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch UBND thành phố T không đúng quy định pháp luật là không có căn cứ. Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 67, Điều 71 Luật Đất đai và khoản 6 Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì “Trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất trái pháp luật thì phải dừng cưỡng chế nếu việc cưỡng chế chưa hoàn thành...”. Vì vậy, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất của bà L là cần thiết và đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của bà Vương Thị Bích L không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Vương Thị Bích L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, bà L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Vương Thị Bích L.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Áp dụng Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/. Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu:
- - Hủy một phần Quyết định số 5263/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường.
- - Hủy một phần Quyết định số 5278/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường.
- - Hủy Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
- - Hủy Quyết định số 4316/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của bà Vương Thị Bích L; ngụ số C Quốc lộ A, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vương Thị Bích L đối với các yêu cầu:
- - Hủy Quyết định số 2034/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
- - Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33 m để thực hiện bán đấu giá.
3/. Án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm: Bà Vương Thị Bích L được miễn.
Chủ tịch UBND thành phố T, UBND thành phố T và Chủ tịch UBND tỉnh L không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
4/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |
Bản án số 1099/2024/HC-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính
- Số bản án: 1099/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Vương Thị Bích L kiện Ủy ban nhân dân thành phố TA, tỉnh Long An yêu cầu: - Hủy một phần Quyết định số 5263/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường. - Hủy một phần Quyết định số 5278/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường. - Hủy Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thị Bích L. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. - Hủy Quyết định số 2034/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất. - Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33 m để thực hiện bán đấu giá. - Hủy Quyết định số 4316/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của bà Vương Thị Bích L; ngụ số C Quốc lộ A, phường D, thành phố T, tỉnh Long An
