|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1098/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1- Ông Võ Văn Dương
- 2- Bà Mai Thị Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Võ Ngọc Duy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 528/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 437/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm H, sinh năm 2005; địa chỉ: Số C, Tỉnh lộ 8, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Ngọc T, sinh năm 1996; địa chỉ: Số A, Đường C, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn ngày 19/4/2024, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H trình bày:
Bà với ông Dương Ngọc T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60 ngày 04/5/2023. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Bà xác định tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn ông T.
- Về con chung có 01 trẻ tên là Dương Ngọc P, sinh ngày 19/3/2023, bà yêu trực tiếp nuôi Ngọc P, bà yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi con tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có.
Do ông T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được nên phải đưa vụ án ra xét xử.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà H vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn ông T, bà yêu trực tiếp nuôi con chung là Dương Ngọc P, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con; ông T vắng mặt nên không có ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về ly hôn, nuôi con chung của nguyên đơn, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Bị đơn ông Dương Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
* Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Cẩm H với ông Dương Ngọc T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60 ngày 04/5/2023 nên là hôn nhân hợp pháp.
[4] Xét yêu cầu của bà Huỳnh Thị Cẩm H xin ly hôn ông Dương Ngọc T:
Ông T không quan tâm, thương yêu bà H, ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến thể hiện ông T không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, cho bà H được ly hôn ông T.
[5] Về con chung có 01 trẻ tên là Dương Ngọc P, sinh ngày 19/3/2023.
[5.1] Xét bà H yêu cầu trực tiếp nuôi Dương Ngọc P, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H.
[5.2] Xét tại phiên tòa bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi con tròn 18 tuổi: Việc bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn.
[6] Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử buộc bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
[8] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát như trên là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H:
- Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Cẩm H được ly hôn ông Dương Ngọc T.
- Về con chung có 01 trẻ tên là Dương Ngọc P, sinh ngày 19/3/2023. Bà Huỳnh Thị Cẩm H được trực tiếp nuôi Dương Ngọc P.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không xét.
Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi trẻ P tròn 18 tuổi.
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0015193 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Thắm |
Bản án số 1098/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1098/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
