Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1098/2024/HC-PT

Ngày: 26 - 9 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

và hành vi hành chính.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán:

Ông Phan Văn Yên

Ông Phạm Trí Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 633/2024/TLPT-HC ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1077/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Vương Thùy D, sinh năm 1974; Địa chỉ: C P, ấp D, xã B, thành phố T, tỉnh Long An. Long An.

Người đại diện uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Phụng C, sinh năm 1968 và ông Phạm Công M, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ: Tầng D, D N, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Phan Hồng V và Luật sư Lê Văn T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Công ty L1, Tầng D, D N, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt Luật sư Phan Hồng V)

- Người bị kiện:

  1. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.
  2. Chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh Long An.

2

Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T: Ông Võ Hồng T1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T:

  • + Ông Hồ Hoài V1, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T. (có mặt)
  • + Ông Phan Lê M1, chức vụ: Quyền Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố T. (có mặt)

3/. Chủ tịch UBND tỉnh L.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh: Ông Trần Thanh S, chức vụ: Phó Phòng Quản lý đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L. (vắng mặt)

- Người kháng cáo: Bà Vương Thùy D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện bà Vương Thùy D trình bày:

UBND thành phố T đã ban hành Quyết định số 5228/QĐ-UBND và Quyết định số 5237/QĐ-UBND ngày 10/12/2019 thu hồi đất đối với hộ bà Vương Thùy D. Tổng diện tích thu hồi là 161m² trong đó bao gồm đất để thực hiện dự án đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V, phần làm đường (phạm vi tối đa 33m) là 61m² và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá là 100m².

Các quyết định thu hồi đối với bà Vương Thùy D với lý do thu hồi để thực hiện dự án đường vành đai thành phố T nhưng lại bao gồm cả phần đất nằm ngoài dự án với mục đích thu hồi để bán đấu giá, tạo nguồn vốn đầu tư dự án là không đúng với tinh thần Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 23/5/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh L về chủ trương đầu tư đường vành đai thành phố T, theo Nghị quyết thì phạm vi dự án là 33m và dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách tỉnh để đầu tư vì theo Nghị quyết này phần đất 20m sau phần làm lộ của bà D không thuộc phạm vi thu thu hồi.

Đất bị thu hồi để bán đấu giá là mang mục đích thương mại không thuộc đối tượng bắt buộc phải thu hồi theo Luật đất đai. Việc thu hồi đất vì mục đích thương mại phải có dự án tách biệt rõ ràng và phải được triển khai thực hiện theo một trình tự nhất định theo quy định của pháp luật về đất đai trước khi ban hành quyết định thu hồi đất. Vì vậy, các quyết định thu hồi đất với lý do thu hồi đất là làm đường vành đai nhưng lại thu thêm đất để bán là vi phạm nghiêm trọng Luật Đất đai, xâm phạm quyền lợi hợp pháp chính đáng của người bị thu hồi đất.

Các quyết định thu hồi đất không tách bạch không ghi rõ nội dung phần thu hồi làm đường và phần thu hồi 20m tiếp theo để bán đấu giá.

3

Về việc phê duyệt tiền bồi thường hỗ trợ:

Do việc ban hành quyết định phê duyệt tiền bồi thường hỗ trợ chậm gần 01 năm sau khi có phương án và hệ số điều chỉnh giá (Quyết định 897/QĐ-UBND ngày 23/3/2018) trong khi năm 2018 là năm có biến động lớn về giá bất động sản nên số tiền bồi thường cho hộ bà V2 Thùy Dung rất thấp so với giá trị thực tế tại thời điểm ban hành quyết định, không đủ bù đắp thiệt hại. Đến năm 2022 UBND thành phố T có ban hành các quyết định bồi thường bổ sung số 3547/QĐ-UBND và 1884/QĐ-UBND phê duyệt tiền bồi thường bổ sung nhưng chỉ điều chỉnh phần còn thiếu đối với tài sản trên đất và tiền hỗ trợ đời sống, không điều chỉnh bổ sung giá trị quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, thực tế đất và các tài sản trên đất mang tên Vương Thùy D là trụ sở làm việc và nơi sản xuất của công ty TNHH MTV V3 bà D là đại diện hợp pháp của công ty. Công ty đã được thành lập từ năm 2011 với mã số doanh nghiệp là 1101395941 nhưng các quyết định phê duyệt tiền bồi thường là hộ gia đình chứ không phải là Công ty như thực tế, chưa tính đến thiệt hại về sản xuất và chưa có chính sách di dời, tái sản xuất đối với Công ty.

Với những bất cập trong việc thu hồi đất trên, bà D không đồng ý và có phản hồi đến UBND thành phố T và UBND tỉnh L nhưng không được xem xét và ngày 07/12/2022 UBND thành phố T đã thực hiện cưỡng chế thu hồi đất của bà D.

Nội dung Quyết định giải quyết khiếu nại:

Bà D đã thực hiện khiếu nại lần đầu đến UBND thành phố T và được giải quyết bằng Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 07/6/2009 theo đó bác toàn bộ yêu cầu của bà D.

Bà D khiếu nại lần 2 đến Chủ tịch UBND tỉnh L. Ngày 29/11/2019 Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4489/QĐ-UBND ngày 29/11/2019. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh L quyết định:

Điều 1: Yêu cầu Chủ tịch UBND thành phố T thực hiện điều chỉnh Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 07/6/2019 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vương Thùy D.

Điều 2: Giao UBND thành phố T:

Thực hiện trình tự, thủ tục kê biên, kiểm đếm tài sản trên đất đúng với thực tế bị thu hồi.

Thực hiện bổ sung Quyết định 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D vì bồi thường thiếu chế độ tái định cư, chế độ hỗ trợ di chuyển, chế độ hỗ trợ ổn định đời sống và bồi thường tài sản trên đất chưa đúng với thực tế bị thu hồi.

Nay bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An: Hủy Quyết định số 5237/QĐ-UBND ngày 10/12/2018; Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2019; Quyết định số 3547/QĐ-UBND ngày 30/9/2022; Quyết định số 1884/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của UBND thành phố T; Quyết định số

4

4489/QĐ-UBND ngày 29/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của bà Vương Thùy D; Quyết định số 4205/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất; Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 07/6/2019 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vương Thùy L.

Đề nghị UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá.

Tại văn bản số 1192/UBND-NCTCD ngày 21/02/2023, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L có nội dung như sau:

Việc thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ đối với bà Vương Thùy D:

Ngày 29/11/2017, Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất tại thành phố T (nay là Ban QLDA đầu tư xây dựng thành phố T) có biên bản đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi (mã số 192) (bà D có ký tên vào biên bản kê biên, không cho kiểm đếm phần nhà trong phạm vi 20m).

Ngày 20/11/2017, UBND thành phố T có Thông báo số 466/TB-UBND về việc thu hồi một phần thửa số 838, tờ bản đồ số 4, diện tích 61m², loại đất LUA; thửa số 865, tờ bản đồ số 4, diện tích 100m², loại đất ONT.

Ngày 10/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5228/QĐ-UBND về việc thu hồi 61m² đất của bà Vương Thùy D thuộc một phần thửa đất số 838, tờ bản đồ số 4, loại đất LUA, tại xã B, thành phố T để thực hiện Dự án Đường Vành đai thành phố T và C1 bắc qua sông V.

Ngày 10/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5237/QĐ-UBND về việc thu hồi 100m² đất của bà Vương Thùy D thuộc thửa đất số 865, tờ bản đồ số 4, loại đất ONT, tại xã B, thành phố T để thực hiện Dự án Đường Vành đai Thành phố T và C1 bắc qua sông V. Ngày 13/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5855/QĐ-UBND về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ Dự án Đường vành đai thành phố T và C1 bắc qua sông V của bà Vương Thùy D, với tổng số tiền 466.685.000 đồng. (Đến nay, bà Vương Thùy D chưa nhận tiền bồi thường, bà D đủ điều kiện tái định cư do giải tỏa trắng nhà ở và đất ở, nhưng do chưa cho kê phần 20m nên chưa được xem xét tái định cư và hỗ trợ ổn định đời sống, bà Vương Thùy D đã nhận quyết định thu hồi đất và bồi thường). Ngày 14/12/2018, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư có Văn bản số 3396/UBND-HĐBT về việc trả lời ý kiến của bà Vương Thùy D.

Kết quả kiểm tra việc thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ tái định cư của bà Vương Thùy D tổng diện tích đất thu hồi: 161m² (một phần thửa số 838, tờ bản đồ số 4, diện tích 61m², loại đất LUA, thửa số 865, tờ bản đồ số 4; diện tích 100m², loại đất ONT), xã B, thành phố T, trong đó có một phần diện tích đất bị thu hồi trong phạm vi 20m để làm phân khu chức năng đường vành đai là đúng với nội dung và quy mô đầu tư để thực hiện dự án tại Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày

5

26/01/2018 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt Dự án đầu tư đường V và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) như sau: Nội dung và quy mô đầu tư: Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến Km 17+500 (Km 14+500– Km 17+500: Quy mô mặt cắt ngang đường theo tiêu chuẩn đường đô thị (TCXDVN 104-2007) với nền đường rộng 33m. Quy mô phân khu chức năng rộng 20m x 2 bên. Tổng cộng phạm vi cắm cọc giải phóng mặt bằng phần nền đường và phân khu chức năng 20m x 2 bên là 73m. Tổng tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D là 466.685.000₫.

UBND thành phố T bồi thường giá trị quyền sử dụng đất ở 50m đầu tiếp giáp đường P với đơn giá 2.244.960 đồng/m² và đất nông nghiệp 50m đầu tiếp giáp đường P với đơn giá 1.327.004 đồng/m² cho bà Vương Thùy D là đúng theo phương án đã được phê duyệt tại Quyết định số 5654/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư số 3207/PA-HĐBT ngày 07/12/2018 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố T, Dự án đường V thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T). Địa điểm: Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến Km 17+500 (Km 14+500 đếnKm 17+500).

UBND thành phố T phê duyệt thiếu chế độ tái định cư; thiếu chế độ hỗ trợ di chuyển; thiếu chế độ hỗ trợ ổn định đời sống cho bà Vương Thùy D.

Bà Vương Thùy D không cho kê biên, kiểm đếm tài sản trên đất (nhà) trong phạm vi 20m làm phân khu chức năng nhưng UBND thành phố T, UBND xã B, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã B và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa thực hiện theo trình tự thủ tục quy định tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 mà vẫn áp giá phê duyệt, bồi thường tài sản trên đất cho bà Vương Thùy D là chưa phù hợp.

Như vậy:

Ngày 10/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5228/QĐ-UBND, Quyết định số 5237/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của bà Vương Thùy D là đúng quy định.

Ngày 13/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5855/QĐ-UBND về việc bồi thường do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất cho bà Vương Thùy D là chưa đúng quy định pháp luật: vì thiếu chế độ tái định cư; thiếu chế độ hỗ trợ di chuyển; thiếu chế độ hỗ trợ ổn định đời sống; bồi thường tài sản trên đất chưa đúng với thực tế bị thu hồi (chưa bồi thường tài sản trên đất trong phạm vi 20m làm phân khu chức năng).

Ngày 07/6/2019, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 2649/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu với nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D là chưa đúng quy định pháp luật, vì quyết định bồi thường nêu trên thiếu chế độ tái định cư; thiếu chế độ

6

hỗ trợ di chuyển; thiếu chế độ hỗ trợ ổn định đời sống; bồi thường tài sản trên đất chưa đúng với thực tế bị thu hồi.

Ngày 29/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4489/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với bà Vương Thùy D, trong đó có nội dung giao UBND thành phố T thực hiện bổ sung Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D vì bồi thường thiếu chế độ tái định cư; thiếu chế độ hỗ trợ di chuyển: thiếu chế độ hỗ trợ ổn định đời sống: bồi thường tài sản trên đất chưa đúng với thực tế bị thu hồi.

Từ nhận xét và kết quả giải quyết khiếu nại nêu trên, Chủ tịch UBND tỉnh L khẳng định Quyết định số 4489/QĐ-UBND, ngày 29/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Vương Thùy D là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét bác đơn khởi kiện của bà Vương Thùy D.

Tại Văn bản số 456/UBND-NCTCD ngày 13/02/2023 của người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh Long An có nội dung như sau:

Trình tự thủ tục kê biên, thu hồi đất và bồi thường đối với bà Vương Thùy D:

Ngày 19/9/2017, UBND thành phố T có Thông báo về việc thu hồi đất của bà Vương Thùy D để thực hiện dự án thành phần 3: Đoạn từ nút giao ĐT.827A (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đọan (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn từ Km14+500 giao với đường tỉnh 827A (đường N nối dài) đến Km17+500 thuộc dự án đường vành đai thành phố T. Địa điểm: xã B, thành phố T.

Ngày 22/9/2017, Hội đồng bồi thường tái định cư thành phố triển khai chủ trương thu hồi đất và có kiểm đếm đất đai tài sản trên đất để bồi thường giải phóng mặt bằng của bà Vương Thùy D; thông báo thu hồi đất dự án thành phần 3: Đoạn từ nút giao ĐT.827A (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đọan (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn từ Km14+500 giao với đường tỉnh 827A (đường N nối dài) đến Km17+500 thuộc dự án đường vành đai thành phố T. Địa điểm: xã B, thành phố T. Trong cuộc họp triển khai này, Hội đồng bồi thường tái định cư có lập danh sách hộ dự họp, các hộ nhận thông báo thu hồi đất, tờ khai trong đó có các hộ tham dự.

Ngày 29/11/2017, Trung tâm phát triển quỹ đất tại thành phố T lập biên bản đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi đối với bà Vương Thùy D.

Ngày 10/12/2018, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5237/QĐ-UBND về việc thu hồi một phần thửa 865, tờ bản đồ số 4, loại đất ONK, diện tích 100m², Quyết định số 5228/QĐ-UBND về việc thu hồi một phần thửa 838, tờ bản đồ số 4, loại đất LUA, diện tích 61m² của bà Vương Thùy D; Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của

7

bà Vương Thùy D và Quyết định 1884/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 về việc phê duyệt tiền bồi thường bổ sung của bà Vương Thùy D.

Quá trình giải quyết ý kiến của bà Vương Thùy D:

Hội đồng bồi thường đã có CV số 3399/UBND-HĐBT ngày 14/12/2018 về việc trả lời ý kiến của hộ như sau:

Về chủ trương thu hồi đất 20m mỗi bên: Thực hiện theo Quyết định 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt dự án đầu tư đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T); Quyết định 1992/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 của UBND tỉnh L điều chỉnh chủ đầu tư dự án từ “UBND thành phố T” sang “Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh Long An” và Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 24/4/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh L về việc điều chỉnh Nghị quyết số 215/NQ-HĐND về đầu tư dự án đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V: “1. Dự án đường vành đai thành phố T: - Bổ sung phạm vi đầu tư thực hiện giải phóng mặt bằng toàn tuyển phạm vi 73m bao gồm: Phần đường là 33m, phân khu chức năng rộng 40m (mỗi bên 20m). Quy hoạch phân khu chức năng đã được duyệt, công bố và thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin và công bố tại trụ sở UBND xã phường nơi có dự án”.

Về đơn giá bồi thường đất đã được đơn vị tư vấn là công ty Cổ phần T2 cung cấp chứng thư trên cơ sở thu thập thông tin khảo sát giá chuyển nhượng thực tế trên địa bàn xã B, được hội đồng định giá đất tỉnh Long An thẩm định và được UBND tỉnh L phê duyệt tại Quyết định số 897/QĐ-UBND ngày 23/3/2018 về việc phê duyệt phương án hệ số điều chỉnh giá đoạn từ Km 14+500 giao với đường tỉnh 827A (đường N nối dài) đến ngã năm T (km22+350) và cầu bắc qua sông V Tây thuộc dự án đường vành đai thành phố T.

Về việc yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất.

Chủ trương thu hồi phần 20m x 2 bên:

Ngày 21/9/2016, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 3855/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đường V thành phố T, và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T).

Ngày 05/7/2017, UBND tỉnh L ban hành Thông báo số 290/TB-UBND kết luận của UBND tỉnh L tại buổi làm việc với Sở ngành tỉnh và nhà đầu tư xây dựng các dự án thành phần thuộc dự án đường vành đai thành phố T và dự án cầu bắc qua sông V.

UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 về việc phê duyệt dự án đầu tư đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T). Tại Quyết định nêu:

“Đoạn từ Quốc lộ A- Đ.827A (km9+400 đến Km14+500)

Qui mô mặt cắt ngang đường theo tiêu chuẩn đô thị (TCXDVN104-2007)

8

với nền đường rộng là 33m. Qui mô phân khu chức năng rộng 20mx2 bên. Tổng cộng phạm vi cắm cọc giải phóng mặt bằng phần phân khu chức năng và phần nền đường là 73m”.

Ngày 30/8/2018, UBND thành phố ban hành Thông báo số 212/TB-UBND về chủ trương thu hồi đất và triển khai kiểm đếm đất đai tài sản trên đất để giải phóng mặt bằng dự án thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A thuộc dự án đường vành đai thành phố T; Địa điểm: Phường T, Xã A và Phường G; Chủ đầu tư: Sở G, tại mục 5 có ghi: “Thiết kế đường đô thị, nền đường 33m, dự kiến phát triển quỹ đất mỗi bên 20m x 2 = 40m.

Ngày 11/9/2017, UBND thành phố T ban hành Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A thuộc dự án đường vành đai thành phố T; địa điểm: Xã A, thành phố T.

Về chủ trương thu hồi đất 20m: Phần mở rộng (20m02 bên) dọc tuyến đường V thành phố T không dùng vào mục đích phân lô bán nền, mà để tạo quỹ đất sạch để triển khai xây dựng các phân khu chức năng theo quy hoạch được duyệt, cụ thể phần 20m x 02 bên này sẽ trở thành đất công do nhà nước quản lý và nhà nước sẽ công bố đấu giá công khai gắn với thực hiện đầu tư các phân khu chức năng nhằm tạo nguồn thu đầu tư đường Vành đai phạm vi 33m; phần 20m x 02 bên này sẽ thực hiện theo quy hoạch chi tiết từng phân khu theo ý tưởng quy hoạch được UBND thành phố T phê duyệt.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:

Căn cứ Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai;

Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1/ Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu:

  • Hủy Quyết định số 3547/QĐ-UBND ngày 10/12/2018.

Hủy một phần Quyết định số 5237/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường.

Hủy Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại

9

xã B, thành phố T.

Hủy Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 07/6/2019 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vương Thùy D.

Hủy Quyết định số 4489/QĐ-UBND ngày 29/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Vương Thùy D.

2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vương Thùy D đối với các yêu cầu:

  • 2.1/ Hủy Quyết định số 4205/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
  • 2.2/ Hủy Quyết định số 1884/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
  • 2.3/ Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33 m để thực hiện bán đấu giá.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 21/5/2024, người khởi kiện bà Vương Thùy D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Vương Thùy D vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vương Thùy D.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện UBND thành phố T, Chủ tịch UBND thành phố T đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà Vương Thùy D; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
  • Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

10

định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Vương Thùy D làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định số 3547/QĐ-UBND; đồng thời thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà D như sau:

  • Hủy một phần Quyết định số 5237/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc thu hồi đất của bà Vương Thùy D, yêu cầu xem xét Quyết định số 5228/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc thu hồi đất của bà Vương Thùy D là quyết định hành chính có liên quan.
  • Hủy Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D.
  • Hủy Quyết định số 1884/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung của bà Vương Thùy D.
  • Hủy Quyết định số 4205/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
  • Hủy Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 07/6/2019 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vương Thùy D.
  • Hủy Quyết định số 4489/QĐ-UBND ngày 29/11/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Vương Thùy D.
  • Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá.

[2.2] Đối với Quyết định số 3547/QĐ-UBND, người khởi kiện đã rút lại yêu cầu khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết là có căn cứ.

Đối với Quyết định thu hồi đất số 5237/QĐ-UBND, Quyết định phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ số 5855/QĐ-UBND, năm 2018 bà D đã nhận được và có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố T, Chủ tịch UBND tỉnh L. Ngày 07/6/2019, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 2649/QĐ-UBND; ngày 29/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 4489/QĐ-UBND, bác khiếu nại của bà D đối với các quyết định nêu trên. Ngày 06/12/2019, bà D nhận được Quyết định số 4489/QĐ-UBND. Đến ngày 10/11/2022, bà D mới khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định trên thuộc trường hợp hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.3] UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất để thực hiện

dự án đường V và cầu bắc qua sông V Tây theo chủ trương của Hội đồng nhân dân tỉnh L và UBND tỉnh L phê duyệt. Trong quá trình thực hiện dự án có điều chỉnh bổ sung việc thu hồi từ 33m làm đường Vành đai và thu hồi thêm 20m x 2 bên đường V để thực hiện bán đấu giá làm các phân khu chức năng đã được phê duyệt. Việc điều chỉnh này đã được Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh L thông qua và được Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 và số 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 của UBND tỉnh L quyết định phê duyệt dự án. Do đó, việc bà D cho rằng chỉ đồng ý việc thu hồi 33m làm đường mà không đồng ý thu hồi thêm 20m x 2 bên là trái chủ trương của địa phương về việc thu hồi đất nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội theo Điều 62 Luật Đất đai.

UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5237/QĐ-UBND và 5228/QĐ-UBND cùng ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà D; Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà D là đúng theo quy định tại Điều 62, Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai. Cụ thể là có thông báo chủ trương thu hồi đất, việc điều chỉnh diện tích thu hồi và phạm vi thu hồi từ 33m đường Vành đai và thu hồi 20m x 2 bên là thực hiện đúng theo các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh gồm: Nghị quyết số 215/NQ-HĐND ngày 18/11/2015, Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 24/4/2018, Nghị quyết số 46/NQ-HĐND ngày 26/10/2018 và Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 23/5/2019. Công văn số 3493/UBND-KT ngày 13/8/2018, của UBND tỉnh L về việc điều chỉnh địa điểm, phạm vi dự án đường V và cầu bắc qua sông V Tây là theo sự điều chỉnh và phê duyệt của HĐND tỉnh L và UBND tỉnh L. Do đó, theo nội dung các văn bản nêu trên thì dự án đường Vành đai với phạm vi thu hồi là 73m (trong đó 33m làm đường Vành đai và 20m x 02 bên là tạo quỹ đất sạch để quy hoạch phân khu chức năng). Bà D cho rằng thu hồi thêm 20m x 2 bên phải tách thành 02 dự án để bồi thường là không có cơ sở chấp nhận.

Bà D khiếu nại quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đến UBND thành phố T. Ngày 07/6/2019 Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2649/QĐ-UBND trả lời khiếu nại cho bà D. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố T, bà D khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh L, ngày 29/11/2019 Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 4489/QĐ-UBND. Do các quyết định nêu trên đã có hiệu lực pháp luật và bà D không chấp hành các quyết định nêu trên nên Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 4205/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà D là đúng quy định tại Điều 69 và Điều 71 Luật Đất đai. Trình tự cưỡng chế được thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai. Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 67, Điều 71 Luật Đất đai và khoản 6 Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì “Trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất trái pháp luật thì phải dừng cưỡng chế nếu việc cưỡng chế chưa hoàn thành...”. Vì vậy, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành

12

quyết định cưỡng chế thu hồi đất của bà D là cần thiết và đúng quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu hủy quyết định số 1884/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường bổ sung của bà Vương Thùy D, thấy rằng: Do UBND thành phố T bồi thường cho bà D thiếu phần hỗ trợ thuê nhà tạm cư và ổn định cuộc sống nên ngày 24/6/2022 UBND thành phố T ban hành Quyết định số 1884/QĐ-UBND để bổ sung hỗ trợ thuê nhà tạm cư và ổn định cuộc sống cho bà D. Vì thế, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 1884/QĐ-UBND là đúng qui định pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của bà Vương Thùy D không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Vương Thùy D phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Vương Thùy D.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Áp dụng Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu:

  • Hủy Quyết định số 3547/QĐ-UBND ngày 10/12/2018.
  • Hủy một phần Quyết định số 5237/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường.
  • Hủy Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại

xã B, thành phố T.

  • Hủy Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 07/6/2019 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vương Thùy D.
  • Hủy Quyết định số 4489/QĐ-UBND ngày 29/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Vương Thùy D.

2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vương Thùy D đối với các yêu cầu:

  • Hủy Quyết định số 4205/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
  • Hủy Quyết định số 1884/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
  • Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33 m để thực hiện bán đấu giá.

3/. Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Vương Thùy D phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai số 0001602 ngày 05/01/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An vào phần án phí phải chịu.

Chủ tịch UBND thành phố T, UBND thành phố T và Chủ tịch UBND tỉnh L không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

4/. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Vương Thùy D phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai số 0000262 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Long An vào phần án phí phải chịu.

5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM (1);
  • - TAND tỉnh Long An (1);
  • - VKSND tỉnh Long An (1);
  • - Cục THADS tỉnh Long An (1);
  • - Đương sự (4);
  • - Lưu VP (5), HS (2).16b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1098/2024/HC-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính

  • Số bản án: 1098/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Vương Thùy D kiện Ủy ban nhân dân thành phố T yêu cầu: - Hủy Quyết định số 3547/QĐ-UBND ngày 10/12/2018. - Hủy một phần Quyết định số 5237/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường. - Hủy Quyết định số 5855/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. - Hủy Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 07/6/2019 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vương Thùy D. - Hủy Quyết định số 4489/QĐ-UBND ngày 29/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Vương Thùy D. - Hủy Quyết định số 4205/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất. - Hủy Quyết định số 1884/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung của bà Vương Thùy D. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. - Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33 m để thực hiện bán đấu giá.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger