Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 1097/2023/DS-PT

Ngày: 28/11/2023

V/v Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy

Các Thẩm phán:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Huyền
  • 2/ Bà Huỳnh Thị Như Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 346/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4571/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 10 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên tòa số 14543/2023/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2023; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1985 (có mặt)
  2. Địa chỉ: 247/47/15 L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C: Ông Nguyễn Quốc T (văn bản ủy quyền ngày 06/5/2022) (có mặt)

  3. Bị đơn: Bà Đinh Thị Bích D, sinh năm 1973 (xin vắng mặt)
  4. Địa chỉ: B L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: 247/47/15 L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: B L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Người kháng cáo: Bà Đinh Thị Bích D

NHẬN THẤY

Theo nội dung Đơn khởi kiện, Đơn khởi kiện bổ sung, Bản tự khai, các Biên bản hòa giải và các lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Do có sự quen biết nên bà Nguyễn Thị C và chồng là ông Nguyễn Văn H có cho bà Đinh Thị Bích D vay tiền nhiều lần để bà D làm ăn, do tin tưởng nên các lần đưa tiền không làm giấy vay mượn. Bà C đã nhiều lần yêu cầu bà D viết giấy vay nợ bà D mới đồng ý ký Giấy vay nợ số tiền 110.000.000 đồng, không tính lãi và hẹn ngày trả vào ngày 25/10/2020. Tuy nhiên, đến nay sau hơn một năm, bà D vẫn chưa trả tiền cho bà C và bà C cũng không có thiện chí trả nợ. Trong giấy ghi nợ, bà D còn cố ý ghi tên là Dương Thị D1, là tên gọi ở nhà của bà D1.

Tại giấy trả nợ do bà D1 cung cấp, bà C thừa nhận dòng chữ “Tháng 2 âm lịch chị D1 đã đóng đủ 6.000.000 (sáu triệu) và chữ ký Chúc” là chữ viết của bà. Còn dòng phía dưới T3+T4+T5....là do bà D1 tự ghi, chứ bà C không biết. Việc bà C kí chữ “Chúc” cách một dòng so với dòng trên là do vô ý, chứ bà không cố tình chừa một hàng để bà D1 điền vào như bà D1 trình bày. Bà C thừa nhận chỉ nhận 6.000.000 đồng của bà D1, ngoài ra không còn khoản tiền nào khác.

Khoảng cuối tháng 12 âm lịch năm 2021, bà C có nhận tiền chuyển khoản của bà D1 số tiền 3.000.000 đồng. Bà C cho rằng đây là số tiền bà D1 cho chồng bà C mua thuốc và ăn tết chứ không liên quan đến việc trả nợ. Tuy nhiên nếu bà D1 vẫn cương quyết đây là tiền trả nợ thì bà C đồng ý trừ số tiền 3.000.000 đồng này vào số tiền gốc bà yêu cầu.

Nay bà C yêu cầu bà D1 trả cho C số tiền là 101.000.000 đồng (110.000.000₫ – 6.000.000₫ – 3.000.000 đ = 101.000.000 đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, bà C không yêu cầu bà D1 trả tiền lãi.

Theo nội dung của Bản tự khai, các Biên bản hòa giải và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn trình bày:

Vào năm 2019, bà Đinh Thị Bích D có quen biết với bà Nguyễn Thị C. Cùng năm 2019, bà D bị bệnh nên có mượn bà C và chồng bà C là ông Nguyễn Văn H số tiền 20.000.000 đồng. Khi nhận tiền không làm giấy vay, không làm biên nhận. Bà C nói với bà D khi nào khỏe có tiền thì trả chứ không buộc trả lãi và hạn trả.

Tháng 01/2020, bà C và chồng ép bà D viết giấy nợ là bà D vay bà C và chồng số tiền 110.000.000 đồng (không phải trả lãi), bà D đồng ý viết giấy nợ vì chồng bà C là ông H có bệnh tâm thần, bà C nói bà D viết giấy nợ để ông H không đánh bà C nữa. Bà D thừa nhận giấy mượn nợ kí giữa bà D và bà C, ông H bà kí tên là Dương Thị D1 là chữ ký của bà, lúc kí do bà C nói cứ ký để đối phó với ông H nên bà cũng ký tên là Dương Thị D1.

Khoảng mấy tháng sau, bà C và ông H có đến nhà hăm dọa đòi nợ. Do sợ nên bà D1 mỗi ngày trả góp 200.000 đồng/ngày cho bà C. Việc trả nợ cả hai có lập sổ ký nhận. Tại sổ xác nhận trả nợ này, dòng chữ “tháng 2 âm lịch chị D1 đã đóng đủ 6.000.000 sáu triệu” và chữ ký “Chúc” là của bà C. Còn dòng T3+T4+T5+T6... là chữ của bà D1 thể hiện các tháng bà D1 trả tiền cho bà C thì bà D1 tự ghi vào. Bà D1 đã trả cho bà C từ ngày 01/2/2020 (âm lịch) đến tháng 5/2021 (âm lịch) tổng cộng 17 tháng số tiền 102.000.000 đồng. Chữ T4 có số 2 là do năm nhuận có hai tháng T4, tới tháng 5 bà D1 mang giấy nợ đến cho bà C thì bà C ký tên vào, khi đó bà C yêu cầu bà D1 điền thêm các chữ T6+T7+T8+T9+T10 là đủ số tiền nợ. Do bà D1 góp rất đầy đủ nên bà C yêu cầu bà D1 viết vậy để bà C không phải ký nhiều lần. Tuy nhiên đến Tháng 6 âm lịch thì dịch bùng phát nên bà C yêu cầu bà D1 xóa các tháng T6+T7+T8+T9+T10 đi nên bà D1 đã gạch đi bằng mực đỏ.

Nay bà C yêu cầu trả số tiền 110.000.000 đồng bà D1 không đồng ý, bà chỉ đồng ý trả số tiền còn thiếu là 8.000.000 đồng (do bà D1 đã trả được 102.000.000 đồng).

Bà D1 có đăng ký kết hôn với ông Nguyễn Văn T1 từ tháng 7/2022, tiền vay nợ với bà C là nợ riêng của bà không liên quan tới ông T1.

Theo nội dung Bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày:

Ông Nguyễn Văn H là chồng của bà C. Số tiền mà bà D1 mượn như bà C trình bày là tiền của vợ chồng nên ông đề nghị bà D1 có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông. Ông đồng ý và thống nhất với lời trình bày của bà C.

Ông Nguyễn Văn H xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Theo nội dung Bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Ông Nguyễn Văn T1 là chồng của bà Đinh Thị Bích D, cả hai kết hôn vào ngày 13/7/2022 nên việc bà D mượn tiền của bà C ông không biết và cũng không liên quan.

Ông Nguyễn Văn T1 xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
  2. Buộc bà Đinh Thị Bích D có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn H số tiền 101.000.000 đồng (một trăm lẻ một triệu đồng), trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Trường hợp bà D chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bà D phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ được xác định theo khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu bà Đinh Thị Bích D trả tiền lãi chậm trả do bà Nguyễn Thị C rút yêu cầu.
  4. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, bà Đinh Thị Bích D có đơn kháng cáo đối với Bản án số 91/2023/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Quốc T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Đinh Thị Bích D, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn phải trả lại số tiền 101.000.000 đồng mà bị đơn còn nợ nguyên đơn.

Bị đơn bà Đinh Thị Bích D có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do sức khỏe và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Đinh Thị Bích D. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí:

  • [1] Án phí dân sự sơ thẩm:
  • Bà Nguyễn Thị C phải nộp 5.050.000 đồng (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp là 3.206.500 đồng (ba triệu hai trăm lẻ sáu nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0020226 ngày 06/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • [2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đinh Thị Bích D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2021/0021313 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

  • [1] Về thủ tục tố tụng:
    • [1.1] Về thời hạn kháng cáo: Ngày 15/6/2023, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án tuyên án, bà Đinh Thị Bích D có mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Ngày 28/6/2023, bà Đinh Thị Bích D có đơn kháng cáo gửi đến Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, đơn kháng cáo của bà Đinh Thị Bích D trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
    • [1.2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:
    • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn T1 có đơn xin vắng mặt và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

      Người kháng cáo bà Đinh Thị Bích D vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  • [2] Về nội dung:
  • Xét kháng cáo của D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa bà Nguyễn Thị C và bà Đinh Thị Bích D có ký giấy vay tiền với nội dung: Tôi Nguyễn Thị C 247/47/15 Lạc Long Q, tôi có cho chị Dương Thị D1 vay số tiền không lãi là 110.000.000 đồng. Xét thấy, trên giấy vay tiền người vay tiền là bà Dương Thị D1, khác với tên của bị đơn là Đinh Thị Bích D. Tuy nhiên, bà D thừa nhận chữ ký trong giấy vay tiền là chữ ký của bà nên xác định bà Đinh Thị Bích D là người đã ký vào giấy vay tiền nêu trên.

    Bà D cho rằng bà mượn 20.000.000 đồng nhưng phải ký giấy vay 110.000.000 đồng là do bị vợ chồng bà C ép buộc. Tuy nhiên, bà D không cung cấp chứng cứ gì để chứng minh cho việc này.

    Bà D kháng cáo cho rằng bà đã thanh toán cho bà C tổng số tiền là 102.000.000 đồng nên nay bà chỉ đồng ý trả cho bà C 8.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà D có cung cấp tờ xác nhận trả nợ có nội dung: “tháng 2 âm lịch chị D đã đóng đủ 6.000.000....”

Cả bà C và bà D đều xác nhận nội dung “tháng 2 âm lịch chị D đã đóng đủ 6.000.000. Sáu triệu“ và chữ ký “C“ do bà C viết và ký tên nên chỉ thể hiện việc bà C đã nhận của bà D 6.000.000 đồng. Còn dòng T3+T4+T5... cả bà C và bà D đều xác định là chữ của bà D do bà D ghi vào. Xét thấy, nội dung T3+T4+T5... không thể hiện việc bà D đã trả góp từng tháng cho bà C với tổng số tiền trả góp là 96.000.000 đồng và bà C cũng không thừa nhận việc này. Bà D không có tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh cho việc bà đã trả cho bà C số tiền trên. Căn cứ vào Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nghĩa vụ chứng minh việc trả nợ là của bị đơn nhưng bị đơn không chứng minh được nên không có cơ sở xem xét cấn trừ nợ theo lời trình bày của bà D.

Ngày 08/02/2022, bà D có nhờ con bà chuyển khoản cho bà C 03 lần số tiền tổng cộng là 3.000.000 đồng, bà D đồng ý cấn trừ số tiền này vào tiền nợ của bà D nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Như vậy, việc bà C yêu cầu bà D trả cho C số tiền là 101.000.000 đồng (110.000.000 đồng – 6.000.000 đồng – 3.000.000 đồng = 101.000.000 đồng) là có cơ sở nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.

Số tiền bà C cho bà D vay là tài sản chung của vợ chồng của bà C và ông H. Ông H có đứng tên trên giấy vay tiền và có yêu cầu bà D trả cho ông và bà C. Căn cứ Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình buộc bà D trả tiền vay cho bà C và ông H.

Ông Nguyễn Văn T1 và bà Đinh Thị Bích D kết hôn vào ngày 13/7/2022 sau ngày bà D vay tiền của bà C, ông cũng có lời khai không liên quan đến số tiền bà D mượn của bà C. Do đó, không xem xét trách nhiệm của ông T1 trong giao dịch vay tiền giữa bà C, ông H và bà D. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C là có căn cứ.

Từ những phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đinh Thị Bích D, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

  • [3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Đinh Thị Bích D không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Đinh Thị Bích D.

  • [1] Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11
  • [2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đinh Thị Bích D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2021/0021313 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - TAND Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP (T/18).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Quy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1097/2023/DS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 1097/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger