Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1094/2023/DS-PT

Ngày: 28/11/2023

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Hồng

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Ngọc Hương

Bà Lê Thị Mỹ Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thế Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 413/2023/TLPT - DS ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 206/2023/DS-ST, ngày 14/7/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4826/2023/QĐXXPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 14787/2023/QĐ-PT, ngày 06 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S

Địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Ngọc M (Theo Giấy ủy quyền số 73/2023/UQ-TGĐ ngày 04/01/2023) (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm: 1946;

Địa chỉ: 1 đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/02/2023 và quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 07/09/2007, ông Nguyễn Anh T1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:

Loại thẻ Số thẻ Hạn mức Ngày ký hợp đồng Lãi suất áp dụng
Visa 472074 - 6019 20,000,000 07/09/2007 1.75 %

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Ông T1 đã thanh toán tổng số tiền 8.033.000 đồng.

Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 2 của Bản điều khoản và điều phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 01/04/2010 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 99.496.993 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tạm tính đến ngày 14/07/2023 ông T1 còn thiếu số tiền là 525.048.548 đồng, cụ thể sau:

Loại thẻ Số thẻ Nợ gốc Lãi quá hạn Lãi suất áp dụng
Visa 472074 - 6019 99.496.993 425.551.555 2.625 (1.75% X 150%)

Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Anh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/07/2023 là 525.048.548 đồng, trong đó: nợ gốc là 99.496.993 đồng, nợ lãi quá hạn là 425.551.555 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15/07/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc nên không ghi nhận được ý kiến của ông T1.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 206/2023/DS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án Nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

    Buộc ông Nguyễn Anh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ là 127.157.100 đồng (một trăm hai mươi bảy triệu một trăm năm mươi bảy ngàn một trăm đồng), trong đó: các loại phí là 13.819.600 đồng (mười ba triệu tám trăm mười chín ngàn sáu trăm đồng), tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm ngàn đồng), tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/07/2023 là 83.737.500 đồng (tám mươi ba triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S ngày 30/08/2007, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/09/2007, loại thẻ Visa, số thẻ 472074 – 6019.

    Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 26 tháng 7 năm 2023 nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn yêu cầu kháng cáo đối với Bản án số 206/2023/DS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm vụ án:

  • Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự án số 206/2023/DS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S trong hạn luật định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Anh T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 14/7/2023 là 525.048.548 đồng. Trong đó, nợ gốc là 99.496.993 đồng, nợ lãi quá hạn là 425.551.555 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1.1] Ngày 07/9/2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Nguyễn Anh T1 ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, loại thẻ Visa, số thẻ 472074-6019, hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng. mục đích là tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã sử dụng hết hạn mức thẻ với số tiền là 20.000.000 đồng và có thanh toán cho phía ngân hàng số tiền là 8.033.000 đồng, cụ thể:

Tháng 10/2007 thanh toán 1.033.000 đồng; Tháng 4, 5, 6/2011 và tháng 8, 9, 10,11/2011 lần lượt mỗi tháng thanh toán là 1.000.000 đồng.

Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa hai bên, hạn mức tín dụng mà phía ngân hàng cấp cho ông T1 là 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, đại diện phía ngân hàng trình bày số dự nợ gốc mà ông T1 còn thiếu là 99.496.993 đồng bởi vì được tính theo phương thức lãi chồng gốc nhiều lần thành nợ gốc. Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, loại thẻ Visa, số thẻ 472074-6019, hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng và căn cứ vào quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005. Yêu cầu xác định nợ gốc với số tiền 99.496.993 đồng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của phía ngân hàng với số tiền nợ gốc của ông T1 còn nợ lại ngân hàng là 20.000.000 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu nợ lãi đối với số tiền là 425.551.555 đồng. Xét thấy: Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ được ký kết giữa hai bên và căn cứ vào khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao quy định thì số tiền lãi được tính trên số tiền nợ lãi gốc trong hạn và lãi trên nợ gốc quá hạn.

Như vậy, ngày 01/4/2010, phía ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ của ông T1 sang nợ quá hạn. Như vậy, số tền nợ gốc lãi trong hạn được tính từ ngày 30/9/2007 đến ngày 31/3/2010 được xác định là 30 tháng.

Số tiền nỡ gốc lãi quá hạn được tính từ ngày 01/4/2010 đến ngày 14/7/2023 (tạm tính) là 159,5 tháng.

Theo quy định tại Điều 6 của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế; Điều 23 của bản điều kiện phát hành của ngân hàng và thông báo số 293/TB-TTT ngày 04/3/2010 thì nợ lãi trong hạn là 1,6%/tháng; Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 1,75%/tháng x 150% = 2,625%/ tháng là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được quy định tại Điều 91 Luật các tổ chứng tín dụng năm 2010. Như vậy, số tiền nợ lãi trong hạn và quá hạn được tính cụ thể như sau:

  • Nợ lãi trong hạn là: 20.000.000 đồng x 1,6%/tháng x 30 tháng = 9.600.000 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn là: 20.000.000 đồng x 2,625%/tháng x 159,5 tháng = 83.737.500 đồng.

Như vậy, số tiền nợ lãi trong hạn + nợ lãi quá hạn (tạm tính đến ngày 14/7/2023) = 9.600.000 đồng + 83.737.500 đồng = 93.337.500 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn đối với số tiền trên là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận một phần về yêu cầu trả tiền lãi trong hạn và quá hạn của nguyên đơn.

[2.3] Xét ngân hàng yêu cầu ông T1 thanh toán các loại phí gồm: Phí thường niên số tiền là 400.000 đồng; Phí trễ hạn chậm thanh toán đến ngày 31/3/2010 là 47.912.231 đồng; P vượt hạn mức đến ngày 31/3/2010 số tiền là 17.131.288 đồng.

Xét thấy: Căn cứ vào thông báo số 03/TB-TTT ngày 02/01/2009 của phía ngân hàng là 400.000 đồng là có căn cứ nên được chấp. Đối với phí trễ hạn chậm thanh toán đến ngày 31/3/2010 là 47.912.231 đồng là chưa có căn cứ. Bởi lẽ, phí trễ hạn được tính: 4% x (Tiền gốc 20.000.000 đồng + lãi trong hạn 9.600.000 đồng) = 1.184.000 đồng. Tương tự Phí vượt hạn mức đến ngày 31/3/2010 được tính 0,075% ngày, tối thiểu 50.000 đồng = 0,075% x 913 ngày x (tiền gốc 20.000.000 đồng + Lãi trong hạn 9.600.000 đồng) = 20.268.600 đồng. Do ông T1 đã thanh toán cho phía ngân hàng số tiền là 8.033.000 đồng. Theo quy định tại Điều 7 hợp đồng sử dụng thẻ Quốc tế và Điều 20 của Bản điều kiện và điều khoản phát hành quy định số tiền ông T1 đã thanh toán sẽ được ưu tiên trả phí.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và chấp nhận số tiền các loại phí mà ông T1 phải thanh toán cho phía ngân hàng là: 400.000 đồng + 1.184.000 đồng + 20.268.600 đồng – 8.033.000 đồng = 13.819.600 đồng là có căn cứ.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 206/2023/DS-ST, ngày 14/7/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về án phí:

[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.894.572 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp là 12.159.696 đồng theo biên lai thu số AA/2021/0019446 ngày 21/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần S còn phải nộp thêm số tiền 7.734.876 đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ông Nguyễn Anh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.357.855 đồng và nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0035261 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

    Buộc ông Nguyễn Anh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ là 127.157.100 đồng (một trăm hai mươi bảy triệu một trăm năm mươi bảy ngàn một trăm đồng), trong đó: các loại phí là 13.819.600 đồng (mười ba triệu tám trăm mười chín ngàn sáu trăm đồng), tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm ngàn đồng), tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/07/2023 là 83.737.500 đồng (tám mươi ba triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S ngày 30/08/2007, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/09/2007, loại thẻ Visa, số thẻ 472074 – 6019.

    Việc thi hành các phần nội dung của quyết định nêu trên được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S ngày 30/08/2007, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/09/2007, loại thẻ Visa, số thẻ 472074 – 6019 cho đến khi thanh toán xong nợ.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.894.572 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp là 12.159.696 đồng theo biên lai thu số AA/2021/0019446 ngày 21/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần S còn phải nộp thêm số tiền 7.734.876 đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Ông Nguyễn Anh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.357.855 đồng và nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0035261 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP . HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND Quận 10;
  • - Chi cục THADS Quận 10;
  • - Cục THADS TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Việt Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1094/2023/DS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1094/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger