|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1093/2024/HS-PT Ngày 27 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Ngọc Huynh |
| Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đảm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 823/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị T; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- - Bị cáo: Trần Thị T (tên gọi khác: không có); Giới tính: Nữ; sinh năm 1963, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Khu phố P, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Dương Thị C (đã chết); có chồng tên Võ Văn K (đã chết); bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
- - Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Đình Hoàng M - Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
(Trong vụ án còn có những người bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị T tổ chức chơi nhiều dây hụi từ năm 1997. Đến cuối năm 2017, biết tâm lý của những người tham gia chơi hụi (hụi viên) thường nuôi hụi, ít tham gia khui hụi, T sử dụng thủ đoạn gian dối tự ý lấy tên hụi viên hốt hụi để chiếm đoạt tiền. Đến tháng 3/2020, T còn 08 dây hụi tháng (mỗi tháng khui hụi 01 lần) đang hoạt động, gồm: 04 dây 1.000.000 đồng, 04 dây 2.000.000 đồng, nhưng do mất khả năng chi trả, không thể duy trì tiếp các dây hụi nên T tuyên bố vỡ hụi. Sau khi vỡ hụi, T vẫn gặp một số hụi viên nói dối nếu đóng đủ các kỳ hụi thì sẽ được đăng hụi, các hụi viên tin tưởng nên tiếp tục đóng các kỳ hụi cho T. T đã chiếm đoạt của 68 hụi viên tổng số tiền 1.445.575.000 đồng (có danh sách kèm theo). Cụ thể như sau:
-
Dây hụi thứ nhất: hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 10/7/2017
Dây hụi có 22 hụi viên tham gia 36 phần hụi, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 33 kỳ, trong đó: các hụi viên đã hốt 14 phần; Thạch tham gia 02 phần, đã hốt; T mượn hụi 01 phần (hụi viên: Nguyễn Thị Ngọc H); T tự ý lấy tên 10 hụi viên để hốt 16 phần (tại các kỳ 7, 9, 10, 11, 12, 13, 15, 17, 18, 21, 22, 25, 28, 29, 31, 33); hụi viên chưa hốt 02 phần; Thạch trả lại tiền cho hụi viên trước khi vỡ hụi 01 phần. Thạch chiếm đoạt số tiền 206.140.000 đồng của 10 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự số tiền 229.140.000 đồng (số tiền những hụi viên chưa lĩnh hụi đã đóng tại các kỳ có hụi viên thực lĩnh).
-
Dây hụi thứ 2: hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 15/11/2017
Dây hụi có 23 hụi viên tham gia 34 phần hụi, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 28 kỳ, trong đó: các hụi viên đã hốt 13 phần; Thạch tham gia 05 phần, đã hốt; T tự ý lấy tên 09 hụi viên để hốt 10 phần (tại các kỳ 2, 3, 4, 5, 8, 10, 11, 15, 22, 25); hụi viên chưa hốt 05 phần; Thạch trả lại tiền cho hụi viên trước khi vỡ hụi 01 phần. T chiếm đoạt số tiền 235.275.000 đồng của 09 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự 416.550.000 đồng.
-
Dây hụi thứ 3: hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 20/11/2017
Dây hụi có 26 hụi viên tham gia 30 phần hụi, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 28 kỳ, trong đó: các hụi viên đã hốt 18 phần; Thạch tham gia 02 phần, đã hốt; T mượn hụi 02 phần (hụi viên: Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Ngọc H); T tự ý lấy tên 05 hụi viên hốt 06 phần (tại các kỳ 3, 4, 5, 9, 17, 21); hụi viên chưa hốt 02 phần. T chiếm đoạt số tiền 74.760.000 đồng của 05 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự số tiền 266.880.000 đồng.
-
Dây hụi thứ 4: hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 25/01/2018
Dây hụi có 28 hụi viên tham gia 36 phần hụi, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 26 kỳ, trong đó: các hụi viên đã hốt 08 phần; Thạch tham gia 03 phần, đã hốt; T mượn hụi 01 phần (hụi viên: Trần Thị G); T tự ý lấy tên 12 hụi viên hốt 14 phần (tại các kỳ 2, 5, 6, 13, 15, 16, 18, 19, 20, 21, 22, 24, 25, 26); hụi viên chưa hốt 08 phần; Thạch trả lại tiền cho hụi viên trước khi vỡ hụi 02 phần. Thạch chiếm đoạt số tiền 230.120.000 đồng của 12 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự số tiền 209.990.000 đồng.
-
Dây hụi thứ 5: hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 10/7/2018
Dây hụi có 28 hụi viên tham gia 38 phần, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 21 kỳ, trong đó: các hụi viên đã hốt 09 phần; Thạch tham gia 01 phần đã hốt; T tự ý lấy tên 08 hụi viên hốt 11 phần (tại các kỳ 2, 3, 4, 5, 6, 9, 13, 14, 15, 16, 20); hụi viên chưa hốt 15 phần; Thạch trả lại tiền cho hụi viên trước khi vỡ hụi 02 phần. T chiếm đoạt số tiền 213.980.000 đồng của 08 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự số tiền 179.140.000 đồng.
-
Dây hụi thứ 6: hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 10/7/2018
Dây hụi có 25 hụi viên tham gia 32 phần, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 21 kỳ, trong đó: các hụi viên đã hốt 09 phần; Thạch tham gia 01 phần, đã hốt; T tự ý lấy tên 09 hụi viên hốt 11 phần (tại các kỳ 5, 7, 8, 10, 13, 14, 15, 16, 18, 19, 21); hụi viên chưa hốt 08 phần; Thạch trả lại tiền cho hụi viên trước khi vỡ hụi 03 phần. T chiếm đoạt số tiền 144.875.000 đồng của 09 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự số tiền 145.825.000 đồng.
-
Dây hụi thứ 7: hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 20/3/2019
Dây hụi có 22 hụi viên tham gia 30 phần, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 13 kỳ, trong đó: các hụi viên đã hốt 03 phần; Thạch tham gia 04 phần, đã hốt; T tự ý lấy tên 06 hụi viên hốt 06 phần (tại các kỳ 4, 5, 6, 8, 9, 13); hụi viên chưa hốt 17 phần. T chiếm đoạt số tiền 201.480.000 đồng của 06 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự số tiền 249.435.000 đồng.
-
Dây hụi thứ 8: hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 05/9/2019
Dây hụi có 23 hụi viên tham gia 33 phần, đến thời điểm vỡ hụi, dây hụi đã khui 07 kỳ, trong đó: hụi viên đã hốt 01 phần, Thạch tham gia 03 phần, đã hốt; T mượn hụi 01 phần (hụi viên: Trần Thị G), T tự ý lấy tên 04 hụi viên hốt 04 phần (tại các kỳ 3, 4, 6, 7); hụi viên chưa hốt 22 phần; Thạch trả lại tiền cho hụi viên trước khi vỡ hụi 02 phần. T chiếm đoạt số tiền 138.465.000 đồng của 04 hụi viên chưa lĩnh hụi, trách nhiệm dân sự số tiền 124.185.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Thị T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Sau khi vỡ hụi, T đã trả lại một phần tiền hụi đã chiếm đoạt cho hụi viên tổng số tiền 145.430.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 08/7/2024, bị cáo Trần Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 12 năm tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị T trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân tốt, trong công tác có nhiều thành tích xuất sắc; có hoàn cảnh gia đình khó khăn; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; từ đó chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị T làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án, các kết luận giám định, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Trần Thị T là chủ hụi, từ năm 1997 đến năm 2017 bị cáo đã đứng ra tổ chức nhiều dây hụi cho các hụi viên tham gia. Trong quá trình làm chủ hụi, biết được tâm lý một số hụi viên thường nuôi hụi cho đến chót, không đến tham gia khui hụi hàng tháng nên từ tháng 01/2018 đến khi tuyên bố vỡ hụi vào tháng 3/2020, bị cáo T đã tự ý lấy tên hụi viên để hốt hụi, sử dụng số tiền đã hốt tiêu xài cho mục đích cá nhân; chiếm đoạt tiền hụi của 68 hụi viên, với tổng số tiền là 1.445.575.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo bị xét xử theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại, quá trình công tác có thành tích, được tặng giấy khen, bằng khen, bản thân hiện có một số bệnh; từ đó xử phạt bị cáo 12 năm tù – mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thạch .
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |
Bản án số 1093/2024/HS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 1093/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Xử phạt bị cáo Trần Thị T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án
