|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1092/2024/HC-PT
Ngày 25 tháng 9 năm 2024
V/v “Khởi kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực đất đai”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Lê Thành Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hà - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 464/2024/TLPT-HC ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 107/2023/HC-ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2643/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Duy H, sinh năm 1994; Địa chỉ: số I đường H, phường R, huyện L (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Hữu K, sinh năm 1967; Địa chỉ: P Chung cư G đường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (có mặt);
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện L và Chủ tịch UBND huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Trụ sở: Số A quốc lộ E, thị trấn L, huyện L.
- Đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Ông Lâm Văn H1 - Chủ tịch, (Xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Ông Mạch Văn L - Phó trưởng Phòng T, (có mặt).
- Bà Trần Thị Hồng N - Phó Giám đốc Trung tâm P, (vắng mặt).
- Ông Trần Thanh H2 - Chủ tịch UBND xã T (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Ngọc C, sinh năm 1983
- Bà Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1981
Cùng địa chỉ: Số A Đường V, phường T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Người bị kiện - Ủy ban nhân dân huyện L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy một phần Điều 1 Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cho ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng hộ ông Trần Duy H do Nhà nước thu hồi đất để đầu tư xây dụng công trình nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn qua ngã 3 Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), đoạn qua huyện L.
- Hủy toàn bộ Văn bản số 983/UBND-TNMT ngày 06/02/2023 của Chủ tịch UBND huyện L về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Trần Duy H.
- Buộc UBND huyện L thực hiện ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông H 01 lô đất ở.
Cơ sở của yêu cầu khởi kiện:
Thửa đất của ông H cùng đứng tên vói ông C, bà L1 có diện tích 381m² (trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây hàng năm khác 281m²) thuộc thửa số 16, tờ bản đồ địa chính số 24 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CQ 846006, cấp ngày 13/5/2009.
Tại dự án nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn từ ngã ba Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52) đoạn qua huyện L, diện tích đất bị thu hồi gần hết, còn lại 9,9m².
Đối chiếu theo quy định pháp luật, nhận thấy: Hộ gia đình ông H đủ điều kiện để giao được 01 lô đất ở.
Việc UBND huyện L ban hành Quyết định 2232/QĐ-UBND ngày 7/5/2021 về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông (bà) Trần Ngọc C, Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng với hộ ông Trần Duy H do Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công
trình dự án nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn từ ngã ba Bầu ông D đến Tỉnh lộ 52) đoạn qua huyện L và Văn bản số 983/UBND-TNMT ngày 06/02/2023 của UBND huyện L về việc trả đơn kiến nghị của ông Trần Duy H. Theo đó, không giao đất ở cho 02 gia đình ông H, ông C là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
Thực tế, tại các dự án khác trên địa bàn huyện L, một số hộ gia đình tương tự như hộ ông H, bị thu hồi đất ở để thực hiện dự án, nhưng đã được UBND huyện L giải quyết giao đất ở. Như vậy, việc giải quyết của UBND huyện L là chưa công bằng, khách quan.
* Người bị kiện - UBND và Chủ tịch UBND huyện L có ý kiến:
I. Đối với nội dung: Hủy một phần Điều 1 Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cho ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng với hộ ông Trần Duy H do Nhà nước thu hồi đất để đầu tư xây dựng công trình Nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn qua ngã 3 Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), đoạn qua huyện L (viết tắt Quyết định số 2232).
UBND huyện L đã tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đúng trình tự, thủ tục của Quyết định số 34/2015/QĐ-UBND ngày 25/8/2015 của UBND tỉnh; Cụ thể:
Ngày 27/5/2021, UBND huyện L ban hành Quyết định số 2062/QĐ-UBND về việc thu hồi 371,1m² đất (Trong đó 100,0 m² đất ở và 271,1 m² đất nông nghiệp), Quyết định số 2232/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng hộ ông Trần Duy H do Nhà nước thu hồi đất để nâng cấp công trình đường Tỉnh lộ 44B, trong đó số tiền bồi thường về đất là 715.306.450 đồng.
Ngoài ra, tại biên bản họp ngày 23/12/2020 của UBND xã T về việc xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và tài sản trên đất của các hộ dân thuộc dự án nâng cấp, mở rộng đường Tỉnh lộ 44B đoạn qua xã T, huyện L. Theo đó, tại số T - Hộ Trần Ngọc C, Nguyễn Thị Bích L1 và ông Trần Duy H (đồng sử dụng), có nội dung: “Về giải tỏa nhà: Không; Về vật kiến trúc khác: Không; Về hoa màu trên đất: Không”.
Ông Trần Duy H, ngụ tại số I, H, phường R, thành phố V; không ở trực tiếp tại vị trí đất thu hồi, là đồng sử dụng đất với hộ ông C và bà L1, trên đất giải tỏa là đất trống.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 21 của Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh quy định:
“... c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở...”.
Điều 22 của Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh quy định:
- Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại khoản 2 Điều 5 Quy định này có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng sinh sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở thu hồi thì UBND cấp huyện căn cứ vào quỹ đất ở hoặc nhà ở và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định giao đất ở hoặc nhà ở theo thẩm quyền.
- Trường hợp khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân đã áp dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Điều 5 Quy định này và khoản 1 Điều này; hoặc đối với trường hợp thu hồi nhiều đất nông nghiệp mà hộ gia đình, cá nhân vẫn còn khó khăn về chỗ ở và có nhu cầu về đất ở thì UBND cấp huyện căn cứ vào quỹ đất ở hoặc nhà ở, tình hình thực tế tại địa phương, quyết định giao đất ở, nhà ở theo thẩm quyền.
Từ các nội dung và căn cứ nêu trên, UBND huyện L đã bồi thường đầy đủ về đất tại Quyết định số 166/QĐ-UBND ngày 21/01/2021 của UBND tỉnh về việc phê duyệt giá đất cụ thể; Về tái định cự: Không (do đất trống, không ở trực tiếp trên đất thu hồi) là đúng quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiện hành đối với Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L.
Vì vậy, việc ông (bà) Trần Duy H yêu cầu Tòa án tuyên hủy quyết định số 2232 là không có cơ sở.
II. Đối với nội dung: Hủy toàn bộ Văn bản số 983/UBND-TNMT ngày 06/02/2023 của Chủ tịch UBND huyện L về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Trần Duy H.
Ngày 29/12/2022, UBND huyện L ban hành Văn bản số 14309/UBND-VP về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Trần Duy H, ngụ tại: Số I, H, phường R, thành phố V.
Ngày 10/01/2023, Phòng T huyện có báo cáo số 34/BC-TNMT về việc giải quyết đơn của ông Trần Duy H, thuộc dự án nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn qua ngã 3 Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), đoạn qua huyện L.
Ngày 06/02/2023, UBND huyện ban hành Văn bản số 983/UBND-TNMT về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Trần Duy H; trong đó, có nội dung:
“Hộ ông Trần Duy Hòa đ sử dụng với hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 thửa đất số 16, tờ bản đồ số 24, diện tích 371,1 m² đất (gồm 100 m²
đất ở và 271,1 m² đất nông nghiệp) tại xã T, được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ846006 ngày 13/05/2019.
Căn cứ các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, UBND huyện L đã chỉ đạo các cơ quan liên quan và địa phương tổ chức thực hiện các bước thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định (Thông báo thu hồi đất, kiểm đếm, lập phương án bồi thường, hỗ trợ ...).
Ngày 27/05/2021, UBND huyện ban hành các Quyết định số 2062/QĐ-UBND về việc thu hồi 371,1 m² đất (gồm 100 m² đất ở và 271,1 m² đất nông nghiệp) của hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1, Trần Duy H (đồng sử dụng) để đầu tư xây dựng công trình Nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn từ ngã ba Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52) và số 2232/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng với hộ ông Trần Duy H. Trong đó UBND huyện L đã bồi thường đất ở theo giá đất cụ thể được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 21/01/2021.
Ngày 07/7/2021, hộ ông H cùng hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đã đồng ý ký nhận tiền và bàn giao mặt bằng. Đến nay đã hơn 12 tháng, các hộ nói trên không có đơn thư nào liên quan đến việc bồi thường bằng đất ở.
Tại Điều 3 của Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/05/2021 của UBND huyện L quy định:
“Trong thời hạn không quá 90 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trường hợp có khiếu nại, hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng với hộ ông Trần Duy H phải gửi đơn đến Chủ tịch UBND huyện L để được xem xét, giải quyết. Trong khi chờ Chủ tịch UBND huyện L giải quyết khiếu nại hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng với hộ ông Trần Duy H phải chấp hành thời hạn di dời giải phóng mặt bằng theo quy định.
Quá thời hạn trên, nếu không có lý do chính đáng, đơn của ông (bà) sẽ không được xem xét”.
Căn cứ khoản 6 Điều 11 của Luật Khiếu nại 2011 quy định các khiếu nại không được thụ lý giải quyết: “... 6. Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lý do chính đáng...”.
Với các nội dung trên, nhận thấy:
Ông Trần Duy H không ở trực tiếp tại vị trí thu hồi và đồng thời thửa đất trên thuộc đồng sở hữu của hộ ông Trần Duy H với hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1. Tuy nhiên, theo đơn kiến nghị chỉ có ông Trần Duy H đứng đơn.
Ngoài ra, khi thu hồi 371,1 m² (gồm 100 m² đất ở và 271,1 m² đất nông nghiệp), UBND huyện L đã bồi thường đất ở theo giá đất cụ thể được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 21/01/2021.
Ngày 07/7/2021, hộ ông Trần Duy H cùng hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đã đồng ý ký nhận tiền và bàn giao mặt bằng. Đến nay đã hơn 12 tháng, quá 90 ngày so với quy định tại Điều 3 của Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/05/2021 của UBND huyện L và khoản 6, Điều 11 Luật khiếu nại năm 2011.
Do đó, việc ông Trần Duy H kiến nghị bồi thường bằng đất ở khi Nhà nước thu hồi phần đất với diện tích 371,1 m² đất (gồm 100 m² đất ở và 271,1 m² đất nông nghiệp) tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 24 thuộc xã T để thực hiện dự án Nâng cấp đường tỉnh lộ 44B (đoạn từ ngã ba Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52) là không có cơ sở xem xét giải quyết”.
Qua đó, UBND huyện L ban hành Văn bản số 983/UBND-TNMT ngày 06/02/2023 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông H là đúng quy định.
Vì vậy, việc ông H yêu cầu Tòa án hủy Văn bản số 983/UBND-TNMT ngày 06/02/2023 của Chủ tịch UBND huyện L là không có cơ sở.
III. Đối với nội dung: Buộc UBND huyện L thực hiện ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông H 01 lô đất ở.
Tại biên bản họp ngày 23/12/2020 của UBND xã T về việc xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và tài sản trên đất của các hộ dân thuộc dự án nâng cấp, mở rộng đường Tỉnh lộ 44B đoạn qua xã T, huyện L. Theo đó, tại số T - Hộ Trần Ngọc C, Nguyễn Thị Bích L1 và ông Trần Duy H (đồng sở hữu), có nội dung như sau: “... c) Thông tin về nhà ở, vật kiến trúc và hoa màu:
Về giải tỏa nhà: Không; Về vật kiến trúc khác: Không; Về hoa màu trên đất: Không”.
Ông Trần Duy H, ngụ tại số I, H, phường R, thành phố V; không ở trực tiếp tại vị trí đất thu hồi, là đồng sở hữu đất với hộ ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1, trên đất giải tỏa là đất trống.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 21 của Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh quy định: “... c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở..”.
Điều 22 của Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh quy định:
“1. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại khoản 2, Điều 5 Quy định này có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng sinh sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở thu hồi thì UBND cấp huyện căn cứ vào quỹ đất ở hoặc nhà ở và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định giao đất ở hoặc nhà ở theo thẩm quyền.
2. Trường hợp khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân đã áp dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Điều 5 Quy định này và khoản 1 Điều này; hoặc đối với trường hợp thu hồi nhiều đất nông nghiệp mà hộ gia đình, cá nhân vẫn còn khó khăn về chỗ ở và có nhu cầu về đất ở thì UBND cấp huyện căn cứ vào quỹ đất ở hoặc nhà ở, tình hình thực tế tại địa phương, quyết định giao đất ở, nhà ở theo thẩm quyền”.
Từ các nội dung và quy định nêu trên, việc ông Trần Duy H đề nghị UBND huyện L thực hiện ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho gia đình ông 01 lô đất ở là không có cơ sở xem xét giải quyết.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Trần Ngọc C và bà Nguyễn Thị bích L2: Có ý kiến hoàn toàn đồng ý theo đơn khởi kiện của ông Trần Duy H. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 107/2023/HC-ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Khoản 2 Điều 74, Điều 79 Luật đất đai năm 2013; Điểm b khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 5 Quyết định 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh B; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Duy H;
- + Hủy Mục B Điều 1 Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L “Về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cho ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng hộ ông Trần Duy H do Nhà nước thu hồi đất để đầu tư xây dụng công trình Nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn qua ngã 3 Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), đoạn qua huyện L”.
- + Hủy Văn bản số 983/UND-TNMT ngày 06/02/2023 của Chủ tịch UBND huyện L về việc Giải quyết đơn của ông Trần Duy H;
- + Buộc UBND huyện L thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc bồi thường bằng đất ở khi Nhà nước thu hồi 371,1m² đất (100m² đất ở và 271,1m² đất nông nghiệp) thửa đất số 16, tờ bản đồ 24, xã T, huyện L của ông (bà) Trần Ngọc C, Nguyễn Thị Bích L1 và Trần Duy H theo quy định của pháp luật.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/8/2023, người bị kiện là UBND huyện L có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Duy H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của UBND huyện L còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
- Người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính.
- Ngày 02/3/2023, ông Trần Duy H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án Tòa án tuyên hủy Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cho ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng hộ ông Trần Duy H do Nhà nước thu hồi đất
để đầu tư xây dụng công trình nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn qua ngã 3 Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), đoạn qua huyện L; Hủy Văn bản số 983/UND-TNMT ngày 06/02/2023 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết đơn của ông Trần Duy H và buộc UBND huyện L thực hiện nhiệm vụ công vụ ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông H 01 lô đất ở. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung:
- Xét tính hợp pháp đối với Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L và Văn bản số 983/UND-TNMT ngày 06/02/2023 của Chủ tịch UBND huyện L:
- [3.1] Về trình tự thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định:
- [3.2] Về nội dung của quyết định hành chính bị kiện:
- [3.2.1] Về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông C, bà L1 và ông H:
Thực hiện dự án đường T (đoạn từ ngã ba Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52); ngày 27/5/2021 UBND huyện L ban hành Quyết định số 2232/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cho ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng hộ ông Trần Duy H và ngày 06/02/2023 Chủ tịch UBND huyện L ban hành Văn bản số 983/UND-TNMT về việc giải quyết đơn của ông Trần Duy H là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/5/2019, hộ ông Trần Duy Hòa đ sử dụng với hộ ông Trần Ngọc C và bà Nguyễn Thị Bích L1 được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số CQ846006 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 24, diện tích 381 m² đất (gồm 100 m² đất ở và 271 m² đất nông nghiệp) tại xã T, huyện L.
Ngày 02/10/2019, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2573/QĐ-UBND về phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình nâng cấp đường tỉnh lộ 44B (đoạn từ ngã ba Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), huyện L.
Ngày 27/05/2021, UBND huyện L ban hành Quyết định số 2062/QĐ-UBND về việc thu hồi 371,1 m² đất (gồm 100 m² đất ở và 271,1 m² đất nông nghiệp) của hộ ông Trần Ngọc C, bà Nguyễn Thị Bích L1 và Trần Duy H để đầu tư xây dựng công trình nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B và Quyết định số 2232/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho hộ ông C, bà L1 và ông H do Nhà nước thu hồi đất, trong đó số tiền bồi thường về đất là 715.306.450 đồng.
UBND huyện L căn cứ Biên bản họp ngày 23/12/2020 của UBND xã T về việc xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và tài sản trên đất của các hộ dân thuộc dự án nâng cấp, mở rộng đường Tỉnh lộ 44B đoạn qua xã T, huyện L với nội dung: Hộ Trần Ngọc C - Nguyễn Thị Bích L1 và ông Trần Duy H (đồng sử dụng đất); “Về giải tỏa nhà: Không; Về vật kiến trúc khác: Không; Về hoa màu trên đất: Không” và cho rằng ông Trần Duy H, ngụ tại số I, H, phường R, thành phố V, không ở trực tiếp tại vị trí đất thu hồi nên không xem xét bồi thường bằng đất ở cho ông C, bà L1 và ông H.
Xét, theo khoản 2 Điều 74 Luật đất đai 2013 quy định:
“2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.
Theo Điều 79 Luật đất đai 2013 quy định:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở”.
Điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định:
“Điều 6: Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:
a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;
b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở”.
Điều 5 Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở như sau:
“1. Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở thực hiện theo quy định tại Điều 79 Luật đất đai, Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014 của Chính phủ, Điều 4 Thông tư 37/2014/TT-BTNMT và các văn bản Quy phạm pháp luật khác có liên quan.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai khi nhà nước thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở (dưới 40 m²) mà hộ gia đình, cả nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư theo nguyên tắc tổng diện tích đất ở hoặc nhà ở tái định cư được bồi thường không lớn hơn diện tích đất ở thu hồi.
Đối với trường hợp bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường cấp huyện chịu trách nhiệm tính toán và được thanh toán bằng tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014 của Chính phủ”,
Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định:
“2. Đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:
a) Trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch đó;
b) Trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái định cư thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 22 của Nghị định này”.
Như vậy, các quy định trên không có quy định về điều kiện phải có nhà bị giải tỏa, phải di chuyển chỗ ở. Đối chiếu các quy định đã nêu trên thì trường hợp hộ gia đình ông C, bà L1 và ông H đang sử dụng đất ở có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị thu hồi 371.1m²/381m², (có 100m² đất ở) chỉ còn 9,9m² tại xã T và hộ gia đình ông C, bà L1 và ông H không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn xã T được bồi thường đất ở hoặc nhà ở tái định cư; thuộc trường hợp “khi nhà nước thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở (dưới 40 m²) mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư theo nguyên tắc tổng diện tích đất ở hoặc nhà ở tái định cư được bồi thường không lớn hơn diện tích đất ở thu hồi”.
- [3.2.2] Về quỹ đất tái định cư:
Ngày 18/5/2022, UBND huyện L có Văn bản số 4922/UBND-TNMT về việc rà soát quỹ đất tại địa phương để làm cơ sở giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị X (hộ dân bị thu hồi đất tương tự như hộ ông H). Trong đó có nội dung: “Qua rà soát trên địa bàn huyện L, nhận thấy quỹ đất ở tại các khu tái định cư tại thị trấn L còn 11 lộ đất, gồm khu tái định cư số 1 L (01 lô), khu tái định cư S L (10 lô). Hiện nay, quỹ đất này sử dụng để giao đất ở tái định cư hoặc giao đất ở mới đối với các hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện do bị thu hồi đất, có nhà ở trên đất bị giải tỏa hết (hoặc diện tích còn lại không đủ điều kiện để ở) và không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn xã, thị trấn nơi có đất ở thu hồi, thuộc các du án như: Đường Q, thị trấn L, huyện L; Nâng cấp Đường Tỉnh lộ 44B (đoạn qua ngã 3 Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), đoạn đoạn qua huyện L”.
Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Duy H: tuyên hủy Điều 1 Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho hộ ông H, ông C và bà L1 (đồng sử dụng) và buộc UBND huyện L thực hiện nhiệm vụ công vụ ban hành quyết định bồi thường bằng đất ở khi thu hồi đất ở cho hộ ông H, ông C, bà L1 là đúng quy định pháp luật.
- [3.2.3] Đối với Văn bản số 983 của Chủ tịch UBND huyện L:
Như đã nhận định và phân tích nêu trên, việc UBND huyện L ban hành Quyết định số 2232 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông Trần Ngọc C, bà Nguyễn Thị Bích L1 và ông Trần Duy H là không đúng quy định của pháp luật nên Văn bản 983 của Chủ tịch UBND huyện L có nội dung giữ
nguyên Quyết định 2332, bác đơn yêu cầu của ông H là không phù hợp với quy định của pháp luật.
- Từ những phân tích và nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của UBND huyện L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên UBND huyện L phải nộp 300.000 đồng án phí theo quy định tại Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Khoản 2 Điều 74, Điều 79 Luật đất đai năm 2013; Điểm b khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 5 Quyết định 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh B; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo UBND huyện L; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 107/2023/HC-ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Duy H;
- + Hủy Mục B Điều 1 Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 27/5/2021 của UBND huyện L “Về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cho ông (bà) Trần Ngọc C và Nguyễn Thị Bích L1 đồng sử dụng hộ ông Trần Duy H do Nhà nước thu hồi đất để đầu tư xây dụng công trình Nâng cấp đường Tỉnh lộ 44B (đoạn qua ngã 3 Bàu ông D đến Tỉnh lộ 52), đoạn qua huyện L”.
- + Hủy Văn bản số 983/UND-TNMT ngày 06.02/2023 của Chủ tịch UBND huyện L về việc Giải quyết đơn của ông Trần Duy H;
- + Buộc UBND huyện L thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc bồi thường bằng đất ở khi Nhà nước thu hồi 371,1m² đất (100m² đất ở và 271,1m² đất nông nghiệp) thửa đất số 16, tờ bản đồ 24, xã T, huyện L của ông (bà) Trần Ngọc C, Nguyễn Thị Bích L1 và Trần Duy H theo quy định của pháp luật.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: UBND huyện L phải nộp 300.000 đồng; được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo B lại thu số 0006213 ngày 31/8/2013 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tuyết Trinh |
14
Bản án số 1092/2024/HC-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Số bản án: 1092/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
