Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  

Cùng thủ đoạn nêu trên, H nhận tiền và hứa hẹn xin việc cho anh Nguyễn Xuân Đ1 và chị Bùi Thị N. Cụ thể:

Khoảng cuối năm 2017, bà Bùi Thị D1 (mẹ anh Đ1) được H giới thiệu có khả năng xin được việc làm bảo vệ ở Trường Đại học C. Bà D1 nhờ H xin cho anh Nguyễn Xuân Đ1 (con trai) làm bảo vệ tại Trường Đại học C, H đồng ý và nói chi phí là 14.000.000 đồng. Tại phòng trọ của H, bà D1 đưa cho H 02 lần với tổng số tiền 14.000.000 đồng (vào ngày 10/2/2018 đưa 5.000.000 đồng; khoảng 03 ngày sau đưa 9.000.000 đồng, không có giấy tờ giao nhận). H hẹn đến ngày 24/02/2018 sẽ xin được việc cho anh Đ1, nhưng không có kết quả. Ngày 30/3/2018, bà D1 yêu cầu H viết giấy nhận tiền, H viết Giấy nhận tiền với nội dung “...Tôi có nhận của chị Bùi Thị D1 số tiền 14.000.000 đồng để xin cho cháu Đ1 đi làm không xin được việc tôi xin trả lại chị D1 đầy đủ số tiền trên vào 20h ngày 31/3/2018...”. Ngày 31/3/2018, H trả lại cho bà D1 số tiền 9.000.000 đồng. Sau đó, H không xin được việc cho anh Đ1 và không trả lại tiền nên ngày 31/7/2018, bà D1 có đơn gửi Công an quận H trình báo sự việc như đã nêu trên và giao nộp: 01 (một) giấy nhận tiền mang tên Nguyễn Thị H đề ngày 30/3/2018.

Khoảng tháng 5 năm 2018, chị Bùi Thị N được H giới thiệu là giảng viên Trường Đại học C và có khả năng xin việc cho chị N vào Trung tâm Oxford Văn P (tại phường P, quận H) với chi phí 5.000.000 đồng, chị N đồng ý. Ngày 12/5/2018, tại phòng trọ của H, chị N giao số tiền 5.000.000 đồng. H viết Giấy nhận tiền với nội dung: “...Tôi có nhận của chị Bùi Thị N số tiền 5.000.000 đồng. Tôi hẹn chị N đến ngày 30/5/2018 tôi sẽ trả lại chị N đầy đủ số tiền trên...”. H hẹn chị N ngày 13/5/2018 sẽ đi làm. Sau đó, H không xin được việc cho chị N, không trả lại tiền. Ngày 05/9/218, chị N có đơn gửi Công an quận H trình báo sự việc như đã nêu trên và giao nộp: 01 (một) giấy nhận tiền mang tên Nguyễn Thị H đề ngày 12/5/2018.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Hành vi Nguyễn Thị H chiếm đoạt số tiền 14.000.000 đồng của bà Bùi Thị D1 vào tháng 02 năm 2018 và số tiền 5.000.000 đồng của chị Bùi Thị N vào ngày 12/5/2018 đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an quận H không xem xét xử lý đối với Nguyễn Thị H về các hành vi này.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H và anh Hoàng Đại H1 (chồng bị cáo) đã trả cho chị Lê Thị L số tiền 60.000.000 đồng, chị Vũ Thị M số tiền 102.000.000 đồng, bà Bùi Thị D1 số tiền 14.000.000 đồng, chị Bùi Thị N số tiền 5.000.000 đồng. Toàn bộ những người nêu trên đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về phần dân sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 2014/2024/HS-ST ngày 16/8/2024, Toà án nhân dân quận H1, thành phố H đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.

Ngày 28/8/2024, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu và thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo. Tại phiên tòa, gia đình bị cáo có xuất trình biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H sau khi phân tích nội dung vụ án đã phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh khó khăn đang nuôi ba con nhỏ, đã bồi thường toàn bộ giá trị tài sản chiếm đoạt; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo có phẩn nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
  • - Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo H được hưởng án treo, tạo cơ hội để bị cáo được tiếp tục lao động để phụng dưỡng bố mẹ tuổi già và nuôi các con ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  • [2] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 18/5/2014 và ngày 04/12/2017, tại nhà trọ của H (ở tổ F, phường P, quận H, thành phố H), Nguyễn Thị H đã đưa ra các thông tin gian dối là H có khả năng xin việc cho người khác, nhằm làm chị Lê Thị L và chị Vũ Thị M tin tưởng giao tiền nhờ H xin việc. Sau khi nhận được 60.000.000 đồng của chị L và 102.000.000 đồng của chị M giao cho, H không liên hệ với ai để xin việc mà chỉ tiêu sử dụng cá nhân hết.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  • [3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn là phù hợp và có cơ sở.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại; bố đẻ và mẹ đẻ bị cáo đều là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Nhì; hoàn cảnh bị cáo có ba con còn nhỏ; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được trở về giúp đỡ gia đình.

Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự đối với T3 lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • ...c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”

Xét thấy mức hình phạt 03 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, một phần đề nghị của luật sư và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt tù, vẫn đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

  • [4] Về án phí:

Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị H đã nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0039013 ngày 18/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H1, thành phố H.

  • [5] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 214/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân quận H1, thành phố H.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt NGUYỄN THỊ H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024.

  1. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị H đã nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0039013 ngày 18/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H1, thành phố H.

  1. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố H;
  • - TAND quận H1;
  • - VKSND quận H1;
  • - Công an quận H1;
  • - Chi cục THADS quận H1;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN

LÊ HẢI YẾN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1091/2024/HS-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 1091/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn T H Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger