Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HSST

Ngày: 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được
  • Ông Đào Xuân Nhi

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Tạ Văn T, tên gọi khác: không, sinh năm 1990 tại Hà Nam; Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; Chỗ ở hiện nay: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Văn T1, sinh năm 1966 (còn sống) và bà Dương Thị H, sinh năm 1966 (đã chết); Bị cáo có vợ là Trần Chúng N, sinh năm 2000 và có 02 người con sinh năm 2020 và 2022;

Tiền sự, tiền sự: không.

Nhân Thân:

Ngày 23/7/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam áp dụng Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự xử phạt 09 tháng tù treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 45/2014/HSST, đến ngày 23/01/2016 chấp hành xong, chấp hành xong án phí vào ngày 24/7/2014.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Trung N1, tên gọi khác: không, sinh năm 1996 tại Bình Phước; Nơi thường trú: khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở hiện nay: khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim C, sinh năm 1970 (đã chết) và Vũ Thị Ngọc H1, sinh năm 1972 (Còn sống); Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: 02.

Ngày 08/02/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước áp dụng Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 15/2018/HSST, đến ngày 03/02/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày 12/9/2023 bị cáo được miễn thi hành án đối với số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 1.000.000 đồng theo Quyết định miễn thi hành án số 11/2023/QĐ-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài. Tuy nhiên, đối với số tiền bồi thường 20.000.000 đồng thì tính đến ngày 10/4/2024 bị cáo chưa thi hành và bị hại vẫn chưa có đơn yêu cầu thi hành án.

Ngày 01/9/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước áp dụng Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 72/2021/HS-ST, đến ngày 15/10/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, tuy nhiên đến ngày 10/4/2024 thì bị cáo chưa chấp hành đóng án phí và bồi thường dân sự.

Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 14/11/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước áp dụng Khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 107/2014/HSST, đến ngày 10/6/2015 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Dương Thị D – SN: 1988 và anh Lê Trí D1 – SN: 1987; Cùng trú tại: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn L – SN: 1996; Trú tại: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
  2. Chị Trần Chúng N – SN: 2000; Trú tại: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
  3. Chị Phan Thị Thu H2 – SN: 1976; Trú tại: Số C ngách D ngõ F M, phường V, quận H, TP .. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 09/03/2024, Tạ Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vespa màu đỏ, biển số 29D1 - 161.23 đến nhà Nguyễn Trung N1 tại khu phố S, phường T, thành phố Đ, Bình Phước để chơi. Khi điều khiển xe đến đường N ngang qua tiệm tạp hóa “Luyến” thuộc khu phố S, phường T, thành phố Đ, thì T nhìn thấy một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh đen, biển số 93P2 - 836.31 của chị Dương Thị D để trên đường phía trước tiệm tạp hóa có cắm chìa khóa trên xe nên T nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy trên. T tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà Nguyễn Trung N1, khi đến thì T gặp N1 đang ở nhà. T nói với N1 về việc có thấy một xe mô tô để ngoài đường có cả chìa khóa trên xe nên rủ N1 đi lấy trộm thì N1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô 29D1 - 161.23 chở N1 ra đến tiệm tạp hóa “Luyến” rồi vòng xe quay lại. N1 đứng ngoài xe cảnh giới, còn T xuống xe đi bộ đến trước tiệm T2 ngồi lên xe mô tô biển số 93P2 - 836.31, nổ máy xe rồi bỏ chạy. Lúc này, trên xe mô tô 93P2 - 836.31 có 01 ba lô vải màu đen. T điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm được, còn N1 thì điều khiển xe mô tô của T chạy theo sau đi đến khu vực lô cao su không có nhà dân thì dừng lại. T kiểm tra thì thấy bên trong ba lô có 01 chiếc máy tính bảng hiệu SamSung màu đen. T lấy máy tính bảng còn vứt ba lô xuống lô cao su không kiểm tra bên trong nên không biết có giấy đăng ký xe. T lấy máy tính bảng, còn N1 điều khiển xe mô tô biển số 93P2 - 836.31 vừa lấy trộm được. T điều khiển xe mô tô biển số 29D1 - 161.23 đi về nhà tại khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để cất giấu. Sau đó, N1 thì điều khiển xe mô tô trộm cắp được mang đi cầm cố cho anh Nguyễn Văn L (tên gọi khác là Bé B) với số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), số tiền này N1 đã sử dụng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân. Sau đó, chị D đã đến Công an phường T trình báo vụ việc trên. Đến ngày 10/03/2024, TN1 đã đến Công an phường T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Tại Cơ quan điều tra, TN1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Kết luận định giá số 16/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận:

  • 01 xe mô tô biển số 93P2 - 836.31, nhãn hiệu Honda Wave RSX, số khung JA52E-02718B9, số máy RLHJA3851MY1212741, đã qua sử dụng, thu hồi được tài sản, trị giá 7.000.000 đồng.
  • 01 máy tính bảng hiệu S, kèm theo ốp máy tính bảng, số seri: R8YW407RYTL, đã qua sử dụng, thu hồi được tài sản, trị giá 2.200.000 đồng
  • 01 ba lô màu đen không rõ nhãn hiệu, không thu hồi được tài sản, không có căn cứ để định giá

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio màu đỏ, biển số 29D1 – 161.23; 01 xe mô tô loại xe Wave RSX, màu xanh đen, biển số 93P2 - 836.31; 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu đen, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Thị Thu H2; 01 đĩa CD-R80MQ nhãn hiệu Maxell lưu trữ đoạn video ghi lại nội dung vụ việc.

Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Dương Thị D 01 xe mô tô loại xe Wave RSX, màu xanh đen, biển số 93P2 - 836.31; 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu đen (bút lục 40).

Về dân sự: Chị Dương Thị D đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu gì thêm. Anh Nguyễn Văn L không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số: 103/CT-VKS ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Tạ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015; Truy tố bị cáo Nguyễn Trung N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Tạ Văn T, từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N1, từ 30 đến 36 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành tiếp tục xác minh xử lý theo thẩm quyền 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio màu đỏ, biển số 29D1 – 161.23, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Thị Thu H2. Tiếp tục lưu trữ hồ sơ 01 đĩa CD-R80MQ nhãn hiệu Maxell lưu trữ đoạn video ghi lại nội dung vụ việc.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố các bị cáo.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận; Vào ngày 09/03/2024 Tạ Văn TNguyễn Trung N1 đã thực hiện hành vi chiếm đoạt của chị Dương Thị D 01 xe mô tô loại xe Wave RSX, màu xanh đen, biển số 93P2 - 836.31; 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu đen và 01 ba lô, tổng trị giá tài sản là 9.200.000 đồng tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Tạ Văn T là người khởi xướng và cũng là người thực hành, Nguyễn Trung N1 đồng phạm với vai trò người giúp sức.

Do đó, hành vi của các bị cáo T, N1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân nên khi phát hiện sơ hở trong việc quản lý tài sản của người bị hại, các bị cáo đã thực hiện việc trộm cắp tài sản là lấy trộm của chị Dương Thị D 01 xe mô tô loại xe Wave RSX, màu xanh đen, biển số 93P2 - 836.31; 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu đen và 01 ba lô, tổng trị giá tài sản là 9.200.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo Tạ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với bị cáo Nguyễn Trung N1 bị cáo có 02 tiền án: Ngày 08/02/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước áp dụng Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 15/2018/HSST, đến ngày 03/02/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày 12/9/2023 bị cáo được miễn thi hành án đối với số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 1.000.000 đồng theo Quyết định miễn thi hành án số 11/2023/QĐ-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tuy nhiên đối với số tiền bồi thường 20.000.000 đồng thì tính đến ngày 10/4/2024 bị cáo chưa thi hành và bị hại vẫn chưa có đơn yêu cầu thi hành án; Ngày 01/9/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước áp dụng Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 72/2021/HS-ST, đến ngày 15/10/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, tuy nhiên đến ngày 10/4/2024 thì bị cáo chưa chấp hành đóng án phí và bồi thường dân sự. Đáng lý khi ra tù, bị cáo phải coi đó là bài học kinh nghiệm, tu dưỡng, rèn luyện bản thân thành người lương thiện có ích cho gia đình và xã hội, ngược lại bị cáo lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều này thể hiện tính liều lĩnh xem thường pháp luật của bị cáo. Do bị cáo phạm tội trong khi lần phạm tội trước của bị cáo chưa được xóa án tích và thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, lần phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Xét tính chất, mức độ do hành vi và hậu quả mà các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.

[6] Do đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn nên cần phân tích, đánh giá vai trò của từng bị cáo để có cơ sở khi quyết định hình phạt.

[6.1] Đối với bị cáo Tạ Văn T:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người khởi xướng (rủ rê bị cáo N1), đồng thời là người thực hành hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để có tính tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.

[6.2] Đối với bị cáo Nguyễn Trung N1:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp với vai trò đồng phạm là người giúp sức (cảnh giới cho bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản), bản thân bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng khi được bị cáo T rủ rê đi trộm cắp tài sản, chẳng những bị cáo không can ngăn mà còn tiếp tay với bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp. Do đó, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để đưa ra mức án phù hợp tương xứng với hành vi của các bị cáo.

[7] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

[7.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú. Do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

[9] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio màu đỏ, biển số 29D1 – 161.23, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Thị Thu H2 có nguồn gốc là của chị Phan Thị Thu H2, đến khoảng năm 2021 chị H2 đã bán cho một người đàn ông và có viết giấy tờ mua bán xe cho người này (hiện đã lâu chị H2 không còn thông tin của người đàn ông này). Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T và người liên quan chị Trần Chúng N (vợ bị cáo T) khai nhận chiếc xe trên là tài sản cá nhân của chị N mua của một người bạn xã hội (không rõ nhân thân lai lịch), không làm hợp đồng mua bán xe, ngoài ra chị N không có chứng cứ gì chứng minh cho việc mình là chủ sở hữu chiếc xe trên. Do đó, Hội đồng xét xử chưa có căn cứ xác định chị N là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này để xử lý. Do đó, cần giao lại giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio màu đỏ, biển số 29D1 – 161.23, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Thị Thu H2 để tiếp tục điều tra, xác minh và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cần tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ 01 đĩa CD-R80MQ nhãn hiệu Maxell lưu trữ đoạn video ghi lại nội dung vụ việc trộm cắp tài sản để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh : Tuyên bố bị cáo Tạ Văn T, Nguyễn Trung N1 (tên gọi khác: không) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Tạ Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2024.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio màu đỏ, biển số 29D1 – 161.23, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Thị Thu H2 để tiếp tục điều tra, xác minh và giải quyết theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002271; Quyển số 0046; Ký hiệu D47/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).

Tiếp tục lưu trữ 01 đĩa CD-R80MQ nhãn hiệu Maxell lưu trữ đoạn video ghi lại nội dung vụ việc trộm cắp tài sản để lưu theo hồ sơ vụ án.

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Các bị cáo Tạ Văn T, Nguyễn Trung N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Tạ Văn T, Nguyễn Trung N1; Người liên quan chị Trần Chúng N có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Bình Phước
  • - Phòng PV 06- Công an tỉnh Bình Phước
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài
  • - Nhà tạm giữ CA thành phố Đồng Xoài;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 109/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger