TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày 30-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh năm 1986.
Quê quán: thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Số nhà A, tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ ba.
Tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 189 ngày 29/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 1.600.000 đồng).
- Bản án hình sự sơ thẩm số 165 ngày 28/10/2020 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, trị giá tài sản mỗi vụ là 1.000.000 đồng; đã chấp hành xong án phạt tù ngày 17/7/2021).
- Bản án hình sự sơ thẩm số 47 ngày 21/4/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tổng giá trị tài sản trộm cắp là 5.130.000 đống; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; chấp hành xong án phạt tù ngày 07/11/2023).
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 24/4/2019 bị Công an phường N, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Ngày 13/12/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 01 năm; đã chấp hành xong.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại
- - Ông Đặng Xuân Đ, sinh năm 1942 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số nhà A, ngõ G, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Ông Ngô Hồng L, sinh năm 1971 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số nhà A, đường P, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Ông Dương Văn L1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Đường G, thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1962 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1975 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số B, tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Đặng Anh T1, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số nhà A, ngõ G, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Bùi Duy T2, sinh năm 1967 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số nhà A, ngõ H, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Lưu Thị T3, sinh năm 1968 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số C K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn M, sinh năm 1986 ở số nhà A, tổ C, phường M, thành phố B đã 03 lần bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 28/01/2024, M đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố B, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, Nguyễn Văn M đi bộ từ nhà trọ ở số A, tổ C, phường M, thành phố B đến địa bàn phường T, thành phố B mục đích xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền. Khi đi đến trước cửa số nhà A, ngõ G, đường N, M nhìn thấy một xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu sơn xám, biển kiểm soát 98L5-4492 dựng ở dìa đường trước cửa nhà. Chiếc xe này là của ông Đặng Xuân Đ, sinh năm 1942 để tại đó. Quan sát xung quanh không thấy có người trông coi, M đi đến vị trí chiếc xe, dùng 01 chìa khóa xe máy mang theo cắm vào ổ khóa xe và vặn thì mở được khóa xe, M ngồi lên xe nổ máy, điều khiển xe đi đến quán N1 ngồi uống nước. Tại đây, M gặp 01 người đàn ông không quen biết. Theo M khai bán cho người đàn ông chiếc xe máy trên với giá 1.500.000 đồng sau đó đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 06/3/2024, ông Đặng Xuân Đ có đơn trình báo và giao nộp 01 hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản do ông Đ trích xuất từ camera khu vực hiện trường ghi lại hình ảnh liên quan đến sự việc.
Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu sơn xám, biển kiểm soát 98L5-4492, đăng ký năm 2005, xe đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 09/12/2023 là 5.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã cho M tự xác định hiện trường nơi trộm cắp tài sản và nơi tiêu thụ tài sản. Kết quả, M xác định đúng địa điểm trộm cắp tài sản tại trước cửa số nhà A, ngõ G, đường N, phường T, thành phố B phù hợp với lời khai bị hại; xác định đúng địa điểm nơi M bán chiếc xe là gầm cầu vượt M, thành phố B.
Cơ quan điều tra đã cho M xem lại hình ảnh nghi vấn đối tượng trộm cắp tài sản do ông Đ giao nộp. Kết quả, M xác định là hình ảnh M thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 09/12/2023.
Về thu giữ vật chứng: Theo M khai đã bán chiếc xe trộm cắp của ông Đ cho người không quen biết kèm theo chiếc chìa khóa xe mô tô mà M mang theo sử dụng để mở khoá nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Xuân Đ yêu cầu bị can M bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Bị can chưa bồi thường cho người bị hại.
Vụ thứ hai: Khoảng hơn 13 giờ ngày 14/01/2024, Nguyễn Văn M đi bộ đến địa bàn phường Đ, thành phố B mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến gần số nhà A, đường P, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B thì M nhìn thấy có 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Cup, màu sơn xanh, biển kiểm soát 29FA-0288 dựng trên vỉa hè trước cổng nhà. Chiếc xe này là của anh Ngô Hồng L sinh năm 1971 để trước cửa nhà, chìa khoá xe vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, M đi đến ngồi lên xe, nổ máy rồi điều khiển xe đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn H ở đường G - Bắc Giang thuộc xã Đ, thành phố B. Tại đây, M gặp anh Đỗ Văn H, sinh năm 1975 ở phường M, thành phố B là chủ cửa hàng. M đặt vấn đề bán chiếc xe trên và nói là xe của M do đã cũ nên không có giấy tờ. Anh H đồng ý mua và trả cho M 800.000 đồng. M đã sử dụng chi tiêu hết.
Ngày 30/01/2024, anh Ngô Hồng L có đơn trình báo về việc bị trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29FA-0288 vào ngày 14/01/2024.
Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Cup, màu sơn xanh, biển kiểm soát 29FA-0288, đăng ký năm 1996, xe đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 14/01/2024 là 3.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã cho M tự xác định hiện trường nơi trộm cắp tài sản và nơi tiêu thụ tài sản. Kết quả, M xác định đúng địa điểm trộm cắp tài sản tại trước cửa số nhà A, đường P, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B phù hợp với lời khai bị hại; xác định đúng địa điểm bán chiếc xe là cửa hàng thu mua sắt vụn Hưng M1 ở xã Đ, thành phố B.
Về thu giữ vật chứng: Theo anh Đỗ Văn H khai đã bán lại chiếc xe trên cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Hồng L yêu cầu bị can M bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Bị can chưa bồi thường cho người bị hại.
Vụ thứ ba: Khoảng hơn 12 giờ ngày 17/01/2024, Nguyễn Văn M đi bộ đến địa bàn xã T, thành phố B mục đích trộm cắp tài sản. Khi M đi đến đường G, thôn T, xã T thì nhìn thấy một xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98L8 – 1420 để ở trên vỉa hè. Chiếc xe này là của anh Dương Văn L1, sinh năm 1979 để tại khu vực trước cửa nhà, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, M đi đến ngồi lên xe, nổ máy rồi điều khiển xe đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn Hưng M1 bán cho anh Đỗ Văn H được 800.000 đồng, đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Khi giao dịch mua bán, M nói với anh H là xe của M do đã cũ nên không có giấy tờ.
Ngày 27/01/2024, anh Dương Văn L1 có đơn trình báo và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD bên trong có 01 đoạn video do anh L1 sử dụng điện thoại quay lại hình ảnh từ camera an ninh ghi lại hình ảnh đối tượng đã trộm cắp; 01 hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản do anh L1 trích xuất từ đoạn video trên có ghi lại hình ảnh liên quan đến sự việc.
Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 98L8 – 1420, đăng ký năm 2005, xe đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 17/01/2024 là 3.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đoạn video do anh L1 giao nộp. Kết luận giám định số 852/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Không xác định được nội dung hình ảnh trong file video có tên “5126822960328.mp4" gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không, do nội dung hình ảnh liên quan đến vụ việc được ghi lại qua màn hình của một thiết bị khác.
Cơ quan điều tra đã cho M tự xác định hiện trường nơi trộm cắp tài sản và nơi tiêu thụ tài sản. Kết quả, M xác định đúng địa điểm trộm cắp tài sản tại đường G, thôn T, xã T, thành phố B phù hợp với lời khai bị hại; xác định đúng địa điểm bán chiếc xe là cửa hàng thu mua sắt vụn Hưng M1 ở đường G - Bắc Giang thuộc xã Đ, thành phố B.
Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn M xem lại đoạn video đã thu giữ. Kết quả M xác định có hình ảnh M khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 17/01/2024 tại đường G, thôn T, xã T, thành phố B.
Về thu giữ vật chứng: Theo anh Đỗ Văn H khai đã bán lại chiếc xe trên cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Văn L1 yêu cầu bị can M bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Bị can chưa bồi thường cho người bị hại.
Vụ thứ tư: Khoảng hơn 16 giờ ngày 28/01/2024, Nguyễn Văn M đi bộ đến địa bàn xã Đ, thành phố B mục đích trộm cắp tài sản. Khi M đi đến ngõ F, đường Đ, thôn Đ, xã Đ, thành phố B thì nhìn thấy có một xe mô tô, nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98H7 – 1992 dựng ở đầu ngõ. Chiếc xe này là của ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1962 ở thôn Đ, xã Đ, thành phố B để tại đó, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát xung quanh không có ai trông coi, M đi đến ngồi lên xe, nổ máy rồi điều khiển xe đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn Hưng M1 bán cho anh Đỗ Văn H được 800.000 đồng, đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Khi giao dịch mua bán, M nói với anh H là xe của M, do đã cũ nên không có giấy tờ.
Ngày 30/01/2024, ông Nguyễn Văn C1 có đơn trình báo và giao nộp 01 hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản do ông C1 trích xuất từ camera an ninh của nhà dân quanh khu vực hiện trường.
Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 xe mô tô, nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98H7 – 1992, đăng ký năm 2002, xe đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 28/01/2024 là 1.000.000 đồng.
Ngày 30/01/2024, C đã tiến hành kiểm soát Nguyễn Văn M khi M đang đi bộ ở thôn Đ, xã Đ, thành phố B. Quá trình làm việc, M đã xin đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội. Quá trình tiếp nhận đầu thú, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của M: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, lắp sim số 0353.762.685 đã qua sử dụng; 01 ví da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn M.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn M nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Kiểm tra điện thoại di động thu giữ của M không phát hiện vi phạm pháp luật.
Cơ quan điều tra đã cho M tự xác định hiện trường nơi trộm cắp tài sản và nơi tiêu thụ tài sản. Kết quả, M xác định đúng địa điểm trộm cắp tài sản tại ngõ F, đường Đ, thôn Đ, xã Đ, thành phố B phù hợp với lời khai bị hại; xác định đúng địa điểm bán chiếc xe là cửa hàng thu mua sắt vụn Hưng M1 ở đường G - Bắc Giang thuộc xã Đ, thành phố B.
Cơ quan điều tra đã thu giữ và trích xuất dữ liệu camera an ninh trên các tuyến đường tại khu vực xảy ra các vụ trộm cắp tài sản và cho M xem lại. Kết quả M xác định có hình ảnh M khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 14/01/2024, 17/01/2024 và 28/01/2024.
Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Văn H nhận dạng ảnh bị can M. Kết quả, anh H nhận ra M là người đã bán cho anh H 03 chiếc xe mô tô vào các ngày 14/01/2024, 17/01/2024 và 28/01/2024.
Cơ quan điều tra đã cho bị can M nhận dạng Đỗ Văn H qua ảnh. Kết quả, M nhận ra anh H là người đã mua 03 chiếc xe mô tô do M trộm cắp đem đến bán vào các ngày 14/01/2024, 17/01/2024 và 28/01/2024.
Cơ quan điều tra đã cho bà Nguyễn Thị T là mẹ bị can M và anh Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 2009 là cháu của bị can M xem lại dữ liệu camera đã thu giữ. Kết quả, bà T và anh Đ1 đều xác định người đàn ông có đặc điểm như trong các đoạn video chính là M.
Về thu giữ vật chứng: Theo anh Đỗ Văn H khai đã bán lại chiếc xe trên cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn C1 yêu cầu bị can M bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Bị can chưa bồi thường cho người bị hại.
Đối với người đã mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L5-4492 do Nguyễn Văn M trộm cắp vào ngày 09/12/2023, ngoài lời khai của M thì không có chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.
Đối với anh Đỗ Văn H đã mua 03 chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn M bán nhưng không biết đó là tài sản do M trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Những đồ vật, tài sản thu giữ gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, lắp sim số 0353.762.685; 01 ví da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn M được nhập kho để xử lý theo quy định.
*Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
*Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
*Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày 30/01/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Đặng Xuân Đ số tiền 5.000.000 đồng, bồi thường cho ông Ngô Hồng L số tiền 3.000.000 đồng; bồi thường cho ông Dương Văn L1 số tiền 3.000.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 1.000.000 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, lắp sim số 0353.762.685; 01 ví da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn M nhưng cần tạm giữ 01 điện thoại di động Nokia để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
*Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 28/01/2024, Nguyễn Văn M đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố B, cụ thể:
Ngày 09/12/2023, Nguyễn Văn M trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 98L5-4492 trị giá 5.000.000 đồng của ông Đặng Xuân Đ để ở trước cửa số nhà A, ngõ G, đường N, phường T, thành phố B. M đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết nên không thu giữ được.
Ngày 14/01/2024, Nguyễn Văn M trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Cup biển kiểm soát 29FA-0288 trị giá 3.000.000 đồng của anh Ngô Hồng L để ở trước cửa số nhà A, đường P, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B. Sau đó, M đem bán chiếc xe trên cho anh Đỗ Văn H được 800.000 đồng.
Ngày 17/01/2024, Nguyễn Văn M trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98L8 – 1420 trị giá 3.000.000 đồng của anh Dương Văn L1 để ở trên vỉa hè đường G, thôn T, xã T, thành phố B. Sau đó, M đem bán chiếc xe trên cho anh Đỗ Văn H được 800.000 đồng.
Ngày 28/01/2024, Nguyễn Văn M trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu LISOHAKA biển kiểm soát 98H7-1992 trị giá 1.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn C1 để ở đầu ngõ F, đường Đ, thôn Đ, xã Đ, thành phố B. Sau đó, M đem bán chiếc xe trên cho anh Đỗ Văn H được 800.000 đồng. Anh H khai đã bán 03 chiếc xe đã mua cho người không quen biết nên không thu hồi được.
Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn M chiếm đoạt trong 04 vụ là 12.000.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi và nhân thân của của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thười hạn mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo tự nguyện xin đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Đặng Xuân Đ số tiền 5.000.000 đồng, bồi thường cho ông Ngô Hồng L số tiền 3.000.000 đồng; bồi thường cho ông Dương Văn L1 số tiền 3.000.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 1.000.000 đồng.
[9] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, lắp sim số 0353.762.685; 01 ví da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn M do đều không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, lắp sim số 0353.762.685 để đảm bảo thi hành án.
[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Đối với người đã mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L5-4492 do Nguyễn Văn M trộm cắp vào ngày 09/12/2023, ngoài lời khai của M thì không có chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.
[12] Đối với anh Đỗ Văn H đã mua 03 chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn M bán nhưng không biết đó là tài sản do M trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là đảm bảo quy định.
[13] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03(ba) năm 08(tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày 30/01/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho ông Đặng Xuân Đ số tiền 5.000.000 đồng(năm triệu đồng), bồi thường cho ông Ngô Hồng L số tiền 3.000.000 đồng(ba triệu đồng); bồi thường cho ông Dương Văn L1 số tiền 3.000.000 đồng(ba triệu đồng); bồi thường cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 1.000.000 đồng(một triệu đồng).
- Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, lắp sim số 0353.762.685; 01 ví da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn M nhưng cần tạm giữ 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, lắp sim số 0353.762.685 để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M Trộm cắp tài sản
