|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HS-ST
Ngày 30-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A Chợ H, Dư H, Lê C, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng H1 và bà Đỗ Thị K; có chồng là Phạm Văn V (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Bản án số 210/2023/HSST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân quận thành phố Hải Phòng xử phạt 4 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 06 năm tù về tội là giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt là 10 năm tù (Bản án không xác định tái phạm đối với lần phạm tội này); tiền sự: Không; hiện bị can đang thi hành án phạt tù tại trại tạm giam X; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số B B, tổ A Đ, quận H, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2014, bà Nguyễn Thị P (sinh năm 1959, nơi thường trú: Số B B, tổ A phường Đ, quận H, Hải Phòng) được UBND quận N thông báo bố trí đền bù thửa đất số 112 lô 20C khu đô thị mới ngã năm sân bay C, phường Đ, quận N, Hải Phòng. Đến cuối năm 2020, anh Ngô Duy T (sinh năm 1990, nơi thường trú: 20/14 B, Tổ A Đ, H, Hải Phòng) và chị Trịnh Hồng M (sinh năm 1990, nơi thường trú: 71B Phủ Thượng Đoạn, Đ, H, Hải Phòng) là con trai và con dâu bà P có quen biết Nguyễn Thị Thanh H và nhờ H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất số 112 lô 20C. H gặp Vũ Thị T1 (sinh năm 1986, nơi thường trú: Số F P, Đ, H, Hải Phòng) và nói về việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất trên, T1 đồng ý với H nhận bộ hồ sơ đó. Sau đó, anh T đưa cho H 01 bộ tài liệu phô tô các giấy tờ liên quan đến thửa đất, H cầm toàn bộ giấy tờ trên về cho T1 xem. Sau khi xem xong, H và T1 thống nhất nhận làm dịch vụ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất trên với giá 80.000.000 đồng, hẹn 02 tháng sẽ đưa giấy chứng nhân quyền sử dụng đất. Anh Thông đồng ý và đưa trước cho H 70.000.000 đồng, số tiền 10.000.000 đồng còn lại khi nhận được bìa đỏ sẽ trả hết. Sau khi nhận tiền, H đưa hết số tiền 70.000.000 đồng trên cho T1. Sau một thời gian thấy T1 chưa làm được giấy tờ đất, H có hỏi thì T1 trả lời chưa làm được nên đưa lại H số tiền 70.000.000 đồng để H tự làm.
Đến tháng 4/2021, T2 (do) lâu không thấy H đưa giấy tờ đất, anh T nhiều lần yêu cầu H đưa giấy chứng nhận như đã hẹn, do(vì) chưa làm được giấy tờ, H đã lên mạng xã hội đặt 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN550316 mang tên Nguyễn Thị P với giá 4.500.000 đồng ghi địa chỉ gửi về văn phòng Thơ. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, H hẹn anh T, chị M và bà P đến văn phòng của H tại số A P. Tại đây, H, bà P, anh T và chị M đến trước. Sau đó T1 đến sau cầm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Nguyễn Thị P đến đưa cho anh T. Anh T xem, đưa cho T1 và H số tiền 10.000.000 đồng còn lại như đã thỏa thuận rồi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đưa bà P.
Ngày 17/02/2023, chị Hoàng Thị Khánh V1 (nhân viên văn phòng đăng ký đất đai quận N) phát hiện giấy tờ đất bà P cung cấp để đăng ký biến động đối với thửa đất 112 lô 20C là giả nên đã trình báo cơ quan Công an và thu giữ giấy tờ giả trên.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị Thanh H thừa nhận đã khai nhận toàn bộ nội dung vi phạm như nêu trên và khai khi T1 không làm được giấy tờ đất, T1 đã bàn với H làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đưa cho bà P. Số tiền 10.000.000 đồng anh T đưa T1 là người nhận. Tuy nhiên quá trình điều tra, T1 trình bày: Việc T1 đồng ý làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P là do H bảo chơi thân với con bà P nên H nhờ T1 đứng ra làm đại diện. Ngoài ra T1 có
2
nói với H là chỉ làm đại diện, không liên quan đến việc làm và nhận tiền, việc H giao dịch và nhận tiền như nào T1 không biết.
Tại Bản kết luận giám định số 75 ngày 20/4/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:
- - Phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959, mã CN550316 so sánh với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB300662 có nguồn gốc từ sở T3 là không cùng phương pháp in.
- - Hình dấu tròn có nội dung " ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYÊN T.P HẢI PHÒNG" trên phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959, mã CN550316 so với hinh dấu tròn có nội dung " ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN T.P HẢI PHÒNG" thu mẫu tại UBND quận N là không phải do một con dấu đóng ra.
Về vật chứng: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 112 địa chỉ Lô B Khu tái định cư N sản bay C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng mang tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959, mã CN550316 ghi nơi cấp Ủy ban nhân dân quận N và ghi ngày cấp 19/4/2021 kèm theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: H đã vận động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 80.000.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Đối với Vũ Thị T1: Do T1 khai nhận không thực hiện việc sử dung giấy tờ giả và lừa đảo cùng với H nên Cơ quan điều tra ra đã tiến hành đối chất đối với T1 và H, giữa T và T1. Ngoài việc H khai nhận có bàn với T1 về việc là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đưa cho bà P và T1 là người cầm số tiền 10.000.000 đồng, ngoài lời khai trên không có tài liệu chứng cứ nào khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi, tài liệu liên quan đến Thơ để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Tại Bản Cáo trạng số 88/CT-VKSNQ ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự; tội Sử con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức quy đinh tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã khai nhận hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức hành vi
3
của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
Bị hại, bà Nguyễn Thị P đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại là 80.000.000 đồng, bà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ khoản d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Bị cáo phải chịu hình phạt chung đối cả hai tội là từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
Căn cứ Điều 56, 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt với hình phạt 10 năm tù của Bản án số 210/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng. Bị cáo đang chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm 06 tháng. Thời hạn chấp hành tính từ ngày 24/11/2022.
Bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Nguyễn Thị Thanh H không có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn nhận làm sau đó lên mạng đặt làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đưa cho bà Nguyễn Thị P nhằm chiếm đoạt số tiền 80.000.000 đồng.
[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2
4
Điều 174 Bộ luật Hình sự và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
[5] Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự quản hành chính của nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo năm 2023 đã bị kết án hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, hiện đang thi hành án, mặc dù bản án đã tuyên không xác định là tái phạm nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, coi thường pháp luật. Vì vậy Cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về quyết định hình phạt:
[8] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong lần phạm tội này, bị cáo bị xét xử với nhiều hành vi phạm tội do đó Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt của từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự và tổng hợp hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[9] Bị cáo Vũ Thị Thu H2 không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[10] Bị hại bà Nguyễn Thị P không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
[11] 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 112 địa chỉ Lô B Khu tái định cư N sản bay C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng mang tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị P,
5
sinh năm 1959, mã CN550316 ghi nơi cấp Ủy ban nhân dân quận N và ghi ngày cấp 19/4/2021 là tài liệu giả được lưu trong hồ sơ vụ án làm tài liệu chứng cứ.
- Về án phí:
[12] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[13] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 (đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản); điểm s khoản 1 (đối với tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức) Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt với hình phạt 10 năm tù của Bản án số 210/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 16 (mười sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 24/11/2022.
Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời gian chấp hành phình phạt chung.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại bà Nguyễn Thị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
6
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
7
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoai
