|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/DS-PT Ngày: 29 - 8 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Thịnh
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Dũng
bà Võ Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thanh Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 51/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Mai Thị Thu H, sinh năm 1978; Địa chỉ: khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Đỗ Thị L – Văn phòng Luật sư Đỗ Lý thuộc Đoàn Luật sư, tỉnh Q; Địa chỉ: Số A T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
- - Bị đơn: ông Lê Lạc L1, sinh năm 1988;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Võ Thị Thanh T, sinh năm 1980; Cùng trú tại: Kiệt B T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Lê Lạc L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Mai Thị Thu H trình bày:
Vào ngày 18/12/2021 ông Lê Lạc L1 có mượn của bà số tiền là 500.000.000 đồng và viết giấy hẹn đến ngày 18/6/2022 sẽ hoàn trả số tiền trên cho bà, số tiền này bà đã chuyển khoản đủ cho ông L1, nhưng đến nay ông L1 vẫn chưa hoàn trả. Đến ngày 15/12/2021 (Âm lịch) ông L1 có mượn thêm của bà số tiền 500.000.000 đồng và bà đã đưa tiền mặt tại nhà riêng của bà đủ 500.000.000 đồng cho ông L1. Bà không có quan hệ làm ăn gì với bà Võ Thị Thanh T (vợ ông L1), bà chỉ làm ăn với ông L1, người ký nhận là ông L1. Giữa bà và ông L1 có quan hệ làm ăn, nên nhiều lần ông L1 mượn tiền nhanh, mượn nóng, mượn ngắn ngày của bà, thì bà và ông L1 không có viết giấy mượn tiền. Vợ ông L1 là bà T có chuyển trả tiền cho bà tổng cộng 02 lần là 500.000.000 đồng như ông L1, bà T trình bày là trả cho những khoản tiền ông L1 mượn trước đó, không liên quan đến số tiền 01 tỷ đồng đang khởi kiện này.
Trong Giấy mượn tiền không có thoả thuận lãi suất, nhưng thực tế 02 bên thoả thuận trả lãi 15.000.000 đồng/tháng của số tiền 500.000.000 đồng. Số tiền 01 tỷ đồng thì trả lãi là 30.000.000 đồng/tháng. Nhưng cụ thể bà nhận tiền lãi của ông L1 bao nhiêu tháng thì bà không nhớ rõ, bà chỉ nhớ ông L1 có trả tiền lãi cho bà được 57.500.000 đồng.
Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Lạc L1 trả cho bà số tiền đã mượn là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Lê Lạc L1 trình bày: Ông thừa nhận chữ viết và chữ ký bên người mượn tiền trong GIẤY MƯỢN TIỀN ngày 18/12/2021 là của ông. Ông thừa nhận có mượn của bà Mai Thị Thu H số tiền 500.000.000 đồng theo như trong giấy mượn tiền và bà H đã dùng tài khoản của bà H để chuyển khoản đủ đến số tài khoản của ông tại Ngân hàng V 0441000759807. Còn đối với số tiền ghi ở cuối trang của Giấy mượn tiền nêu trên “Em L1 có mượn thêm chị H số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)” ngày 15/12/2021 (Âm lịch) thì bà H chưa đưa tiền cho ông, không đưa tiền mặt cũng như không chuyển khoản cho ông.
Do đó, số tiền thực của GIẤY MƯỢN TIỀN ngày 18/12/2021 thì ông chỉ mượn của bà H số tiền là 500.000.000 đồng. Ông đã trả đủ số tiền này cho bà H với hình thức chuyển khoản, trả lại từ tài khoản của vợ ông là Võ Thị Thanh T từ tài khoản Ngân hàng A 18490127 vào ngày 01/3/2022. Trong đó 01 lần chuyển số tiền 450.000.000 đồng và 01 lần chuyển số tiền 50.000.000 đồng đến số tài khoản của bà H với nội dung “LINH GUI TRA NO”. Ông không có mượn tiền nóng, mượn nhanh gì tiền của bà H, nếu có thì phải có giấy tờ mượn tiền rõ ràng.
Trong khoảng thời gian mượn số tiền 500.000.000 đồng từ bà H chuyển khoản cho mượn thì hàng tháng ông có trả tiền lãi cho bà H. Cụ thể ông trả tiền lãi từ ngày 18/12/2021 đến 01/3/2022, mỗi tháng ông trả tiền lãi cho bà H là 15.000.000 đồng của số tiền 500.000.000 đồng, tổng cộng tiền lãi 04 tháng ông đã trả cho bà H là 60.000.000 đồng. Hình thức trả tiền lãi là có lúc chuyển khoản (không nhớ cụ thể từ tài khoản nào, trả thời gian nào), có lúc trả tiền mặt cho bà H (ông cũng không nhớ ngày cụ thể).
Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thanh T trình bày: Bà là vợ của ông Lê Lạc L1. Trước đây ông L1 có nói cho bà biết, là có nợ tiền của bà H và nói số tiền nợ là 500.000.000 đồng. Số tiền này bà không biết ông L1 mượn khi nào, ông L1 mượn để sử dụng vào việc gì bà cũng không biết. Vì là vợ chồng, nên khi bà có tiền trong tài khoản thì ngày 01/3/2022 bà có chuyển khoản trả cho bà H 02 lần, một lần 50.000.000 đồng và một lần 450.000.000 đồng, tổng cộng là 500.000.000 đồng để trả tiền nợ cho ông L1 với nội dung “LINH GUI TRA NO”. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ các điều 357, 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Thu H về tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Lê Lạc L1.
- Buộc ông Lê Lạc L1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Mai Thị Thu H số tiền còn nợ gốc theo nội dung mượn tiền từ Giấy mượn tiền ngày 18-12-2021 và ngày 15-12-2021 AL là 500.000.000 đồng và tiền lãi tổng cộng cho 02 khoản vay là 66.110.000 đồng, tổng cộng là 566.110.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Thu H về việc buộc ông Lê Lạc L1 thanh toán số tiền nợ gốc theo Giấy mượn tiền ngày 18-12-2021 là 500.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/4/2024 ông Lê Lạc L1 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Lạc L1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và bị đơn không rút đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại một phần bản án sơ thẩm.
[2] Xét kháng cáo:
[2.1]. Về thủ tục tố tụng
Về thời hạn kháng cáo: bị đơn ông Lê Lạc L1 kháng cáo trong thời hạn, nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý phúc thẩm vụ án theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2]. Về nội dung vụ án
[2.2.1] Giữa bà Mai Thị Thu H và ông Lê Lạc L1 có quan hệ vay mượn tiền theo Giấy mượn tiền ngày 18/12/2021 là có thật. Xét thấy, đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự, hợp pháp, nên được pháp luật công nhận.
[2.2.2] Đối với khoản nợ ông Lê Lạc L1 viết mượn thêm của bà H ngày 15/12/2021 (Âm lịch) nhằm ngày 17/01/2022 (Dương lịch) số tiền mượn 500.000.000 đồng. Ông L1 thừa nhận chữ viết và chữ ký của người mượn tiền là của ông. Tuy nhiên, ông cho rằng bà H chưa đưa số tiền 500.000.000 đồng viết mượn thêm này cho ông. Bà H thì cho rằng cả 02 lần viết giấy mượn tiền đều ở nhà bà và lần mượn sau ngày 15/12/2021 Âm lịch bà cũng đã giao tiền mặt đủ cho ông L1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với khoản nợ 500.000.000 đồng ông L1 mượn thêm của bà H vào ngày 15/12/2021 Âm lịch cũng được 02 bên thống nhất viết vào giấy mượn tiền trước đây. Ông L1 cũng thừa nhận chữ viết, chữ ký viết mượn thêm là do ông viết và ký. Nhưng ông L1 cho rằng: bà H chưa đưa số tiền 500.000.000 đồng cho ông, không đưa tiền mặt cũng như không chuyển khoản cho ông, nên ông không nợ, nhưng ông L1 không có chứng cứ chứng minh.
Tại cấp phúc thẩm, ông L1 có cung cấp tờ Giấy (thư) do bà H viết cho ông L1 để chứng minh cho đến thời điểm bà H viết (thư) cho ông L1 thì ông L1 chỉ còn nợ bà H số tiền 500.000.000 đồng. Bà H thừa nhận nội dung thư gửi cho ông L1 do chính bà viết, Hội đồng xét xử xét: Mặc dù trong thư không ghi thời gian bà H viết (thư) cho ông L1, nhưng tại phiên toà phúc thẩm ông L1 đã thừa nhận: tờ Giấy (thư) do bà H viết cho ông L1 là sau khi ông L1 bị Công an gọi lên ghi lời khai khi Quán Karaoke bị lập biên bản. Ông L1 thừa nhận: ông L1 bị Công an gọi lên ghi lời khai trong tháng 02/2022 và sau khi bị Công an gọi lên ghi lời khai thì bà H và ông L1 không gặp nhau, không gọi điện thoại, nên bà H mới viết (thư) cho ông L1.
Trong (thư) có nội dung: “...vừa rồi, công an gọi lên lại, ghi lời khai lại lần nữa...” Nội dung này chứng tỏ sau thời gian L1 bị công an gọi lên lại, ghi lời khai lại vì thời gian rất lâu, công an mới kêu lên làm việc lại;
Và trong thư có nội dung “...từ khi quán gặp sự cố bị bắt đến giờ, tuyệt đối giai đoạn này không nhận khách nghe nhạc, tuy nhiên trừ hết chi phí hàng hoá các thứ ta vẫn có thu về gần 500 triệu nên tiền phần trăm của em đắp qua phần lãi hằng tháng em chưa gửi cũng tạm đủ...” Nội dung này chứng tỏ thời gian viết lá thư cách rất xa thời gian Quán Karaokê bị lập biên bản ngày 10/02/2022. Vì giai đoạn này quán rất khó khăn, công an không cho mở cửa, khách sợ đến quán mang tiếng, ồn ào nên rất ít khách. Tuy nhiên, trừ hết chi phí hàng hoá các thứ ta vẫn có thu về gần 500 triệu, nên phải hơn 02 tháng mới thu về được gần 500 triệu. Như vậy, nội dung thư gửi của bà H gửi cho ông L1 không thể hiện ngày tháng năm cụ thể viết và gửi. Trong nội dung tờ thư gửi đề cập đến khoản nợ 500.000.000 đồng hẹn trả vào tháng 6/2022. Tại phiên toà phúc thẩm ông L1 cũng đã thừa nhận: Để được doanh thu sau khi trừ chi phí còn 500 triệu, thì phải cần thời gian ít nhất là 01 tháng. Trong khi đó, theo Biên bản sự việc do Công an tỉnh Q lập thì Quán Karaoke bị lập biên bản ngày 10/02/2022. Ngày 01/3/2022 vợ ông L1 có trả 500.000.000 đồng, nên đến ngày bà H viết thư khoảng ngày 10/3/2022 (theo ông L1) thì ông L1 còn nợ bà H 500.000.000 đồng là có căn cứ. Do đó, bản án sơ thẩm buộc ông Lê Lạc L1 phải trả cho bà Mai Thị Thu H số tiền 500.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét yêu cầu trả tiền lãi của bà H thì thấy: Đối với khoản tiền nợ 500.000.000 đồng lần đầu thì ông L1 hẹn đến tháng 6/2022 là hạn cuối trả nợ, nhưng qua tài khoản của bà T (vợ ông L1) ông đã chuyển khoản trả trước hạn hẹn hết từ ngày 01/3/2022. Trong Giấy mượn tiền không thỏa thuận lãi suất, nhưng trong quá trình làm việc 02 bên thừa nhận có trả tiền lãi, tuy nhiên 02 bên không thống nhất với nhau về mức lãi suất là bao nhiêu. Do đó, theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự bản án sơ thẩm tính lãi suất là 10%/năm là đúng pháp luật.
Tiền lãi phải trả từ ngày mượn tiền 18/12/2021 đến 01/3/2022 là 70 ngày là 500.000.000 đồng x 10%/12/30 ngày x 70 ngày = 9.722.000 đồng.
Đối với khoản tiền 500.000.000 đồng mượn thêm ngày 15/12/2021 Âm lịch nhằm ngày 17/01/2022 đến ngày xét xử 17/4/2024 là 820 ngày. Tiền lãi phải trả 500.000.000 đồng x 10%/12/30 ngày x 820 ngày = 113.888.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà H thừa nhận: nội dung tẩy xoá ở mặt sau Giấy mượn tiền ngày 18/12/2021 là do bà H ghi khi tính số tiền lãi ông L1 phải trả và đã trả bằng tiền mặt cũng như bà H tự cấn trừ qua doanh thu của ông L1 làm tại quán thể hiện số tiền 90.000.000 đồng. Nên Hội đồng xét xử tính lại số tiền lãi ông L1 phải trả cho phù hợp. Cụ thể:
Số tiền lãi ông L1 phải trả cho bà H đối với 02 khoản tiền mượn là 9.722.000 đồng + 113.888.000 đồng = 123.610.000 đồng, trừ đi số tiền lãi bà H đã nhận của ông L1 là 90.000.000 đồng. Nên ông L1 còn phải trả số tiền lãi cho bà H tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 33.600.000 đồng.
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Lạc L1, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa Bản án dân sự sơ thẩm, nên tính lại án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp. Cụ thể: ông Lê Lạc L1 phải chịu 25.344.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[4]. Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận, nên ông Lê Lạc L1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Lạc L1, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Căn cứ các điều 357, 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Thu H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Lê Lạc L1.
- Buộc ông Lê Lạc L1 phải trả cho bà Mai Thị Thu H số tiền 533.600.000 đồng (Năm trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm nghìn đồng). Trong đó tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi là 33.600.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Thu H về việc buộc ông Lê Lạc L1 trả số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) theo Giấy mượn tiền ngày 18/12/2021.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Lạc L1 phải chịu 25.344.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Mai Thị Thu H phải chịu 24.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.600.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012221 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ. Hoàn trả cho bà Mai Thị Thu H số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
- - Án phí dân sự phúc thẩm: ông Lê Lạc L1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Lê Lạc L1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai số 0001326 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa "Đã ký" Nguyễn Hữu Thịnh |
Bản án số 109/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 109/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Mai Thi Thu H với bị đơn Le Lac L
