|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/HS -ST Ngày 29/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Úy; bà Nguyễn Thị Hà
-Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST - HS ngày 05/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST – HS ngày 12/8/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 35/TB-TA ngày 23/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Bá N, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn Đ, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Bá N1; con bà Tống Thị H; Vợ, con: Chưa; D chỉ bản số 249 lập ngày 02/4/2024 tại Công an huyện C. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ: từ ngày 25/3/2024 đến ngày 03/4/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Trần Văn N2, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Â; con bà Nguyễn Thị V; Vợ: Phạm Thị T và có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017); D chỉ bản số 239 lập ngày 02/4/2024 tại Công an huyện C.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 22/11/2023, Công an huyện C xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức xử phạt: Cảnh cáo (chưa xóa tiền sự).
Nhân thân: Bản án số 114/2015/HSST ngày 23/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt Trần Văn N2 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong thời gian cải tạo không giam giữ ngày 17/11/2016, đã nộp án phí HSST ngày 17/6/2016 (đã được xóa án tích).
Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 25/3/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L – sinh năm 1982; Nơi cư trú: thôn N, thị trấn V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, Trần Văn N2 nhắn tin qua ứng dụng Zalo và T1 trên điện thoại cho Trần Bá N, cả hai bàn bạc thống nhất rủ nhau đi mua ma túy đá về sử dụng. Sau đó, N cùng N2 đi đến khu vực xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội để mua ma túy. Khi đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện C, N2 đứng đợi còn N đi một mình vào ngõ nhỏ tìm và gặp một người nam giới N không quen biết. Tại đây, N mua được một túi ma túy đá với giá 300.000 đồng (là tiền của N, N2 không phải đóng góp gì). Mua được ma túy N quay lại gặp N2, cả hai cùng nhau đi về khu công nghiệp P uống nước. Khi cả hai đang uống nước thì N gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn L rủ đến khu đất trống bên trong khu công nghiệp P cùng sử dụng ma túy đá, anh L đồng ý. Sau đó, N và N2 đi ra khu đất trống bên trong khu công nghiệp P thuộc thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội. Tại đây, N thấy 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa, 01 coóng thủy tinh, 01 đoạn ống nhựa, 01 dao lam, N cho rằng đây là bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá do ai đó đã sử dụng bỏ lại. Nguyên lấy bộ dụng cụ trên và túi ma túy đá vừa mua được đưa cho N2, rồi N đi mua bật lửa gas. Khi N đi mua bật lửa về thì gặp L đang đi đến, N cùng L đi vào gặp N2 rồi đưa chiếc bật lửa gas cho N2. Nghĩa cắt một đoạn ống hút nhựa màu tím để xúc ma túy đá từ trong túi nilon cho vào chiếc coóng thủy tinh cắm sẵn trên nắp chai nhựa. N2 bật lửa rồi hút ma túy đá, sau đó N2 châm lửa cho N và anh L lần lượt sử dụng ma túy. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi cả N2, N và anh L đang thay nhau sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật, lập biên bản và đưa về trụ sở làm việc.
* Tang vật thu giữ:
- - 01 (một) chai nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa màu tím, 01 (một) coóng thủy tinh màu trắng, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) đoạn ống nhựa màu tím, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) túi nilong màu trắng, có kích thước (1x1) cm, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) dao lam nhãn hiệu CROMA màu bạc, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, vỏ màu bạc, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Bá N;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, vỏ màu bạc, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn N2;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, thu giữ của anh Nguyễn Văn L.
* Tại Kết luận giám định số 2342/KLGĐ-PC09 ngày 03/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
“- 01 coóng thủy tinh màu trắng, 01 ống hút nhựa màu tím; 01 túi nilông màu trắng và 01 dao lam nhãn hiệu CROMA đều có dính ma tuý loại Methamphetamine.”
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Trần Bá N, Trần Văn N2, anh Nguyễn Văn L, kết quả kiểm tra như sau:
Tại các Biên bản kiểm tra điện thoại ngày 25/3/2024 đối với điện thoại Iphone 6S màu bạc, số thuê bao: 0965588876 của Trần Bá N; điện thoại Iphone 5 màu bạc, số thuê bao 0877405295 của Trần Văn N2 và điện thoại OPPO màu đen, số thuê bao 0986262995 của anh Nguyễn Văn L thể hiện: Từ khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/3/2024, N và N2 nhiều lần nhắn tin cho nhau bàn bạc, thống nhất đi mua ma túy về để sử dụng; Từ 10 giờ 56 phút cùng ngày, N nhiều lần gọi điện, nhắn tin cho L rủ L sử dụng ma túy. Nội dung tin nhắn, cuộc gọi phù hợp với lời khai của N, N2 và L.
Cáo trạng số 101/CT –VKS ngày 01/8/024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố: Trần Bá N và Trần Văn N2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung vụ án đã nêu trên, các bị cáo thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Trần Bá N và Trần Văn N2 về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 (Nguyên thêm khoản 2) Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Bá N từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù; Trần Bá N3 từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với N, N3.
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động thu của các bị cáo N, N3; trả lại L điện thoại di động đã thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L đã được triệu tập hợp lệ, trong hồ sơ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng. Xét sự vắng mặt của anh L tại phiên tòa không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 25/3/2024, Trần Bá N và Trần Văn N2 đã có hành vi bàn bạc, thống nhất cùng nhau đi mua túy; chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho các đối tượng: Trần Bá N, Trần Văn N2 và Nguyễn Văn L. Đến khoảng 11 giờ 45 phút ngày 25/3/2024 khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị Công an huyện C kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của Trần Bá N và Trần Văn N2 đã phạm vào tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an, trực tiếp tiếp tay cho tệ nạn nghiện ma túy phát triển. Các bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý chuẩn bị ma túy, địa điểm để tổ chức sử dụng ma túy nhằm thỏa mãn bản thân và của những đối tượng khác.
Hành vi của các bị cáo mang tính chất đồng phạm đơn giản. Bị cáo Trần Văn N2 là người rủ rê và cùng N đi mua ma túy, là người trực tiếp pha chế ma túy, châm lửa cho N, L lần lượt sử dụng ma túy; bị cáo có nhân thân xấu, năm 2015 đã bị kết án về tội Đánh bạc; có 01 tiền sự ngày 22/11/2023 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa.
Bị cáo Trần Bá N là người trực tiếp đi mua ma túy; gọi điện rủ L cùng sử dụng ma túy, đi lấy dụng cụ, mua bật lửa đưa cho N2 để N2 pha chế ma túy.
Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội, phù hợp nhân thân của từng bị cáo, đồng thời để cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình xét các bị cáo Trần Bá N và Trần Văn N2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng Trần Bá N phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có ông nội được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ giải phóng, là Liệt sỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có bố đẻ chết sớm, mẹ đẻ hay đau ốm lại đang phụng dưỡng bà nội – vợ liệt sỹ đã già yếu, bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt do hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với Nguyễn Văn L là người được Trần Bá N, Trần Văn N2 cho cùng sử dụng trái phép ma túy loại Methamphetamine. Do đó, L không phạm tội nhưng Nguyễn Văn L đã vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Ngày 10/6/2024, Công an huyện C, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với Nguyễn Văn L là có căn cứ.
Đối với nguồn gốc số ma tuý, Trần Bá Nguyên k nhận đã mua của một người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 300.000 đồng tại khu vực xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội nên CQĐT không có căn cứ để tiến hành điều tra, xác minh xử lý. Đối với số tiền 300.000 đồng dùng để mua ma túy, Nguyên khai là tiền đi làm thuê mà có.
[3] Về vật chứng vụ án:
- - 01 (một) phong bì dán kín của Phòng K - Công an thành phố H, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Q, cán bộ công an Nguyễn Văn C và các đối tượng Trần Văn N2, Trần Bá N;
- - 01 (một) chai nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa màu tím;
- - 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng;
- Đều là ma túy và những đồ vật dùng để chứa ma túy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, vỏ màu bạc, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Bá N, không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong, số Model trên vỏ máy A1688 FCC ID:BCG-E2946A IC: 579C-E2946A;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, vỏ màu bạc, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn N2, không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong, số IMEI 358759053465992;
- Đều là phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn L, không kiểm tra tình trạng chất lượng máy bên trong, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho anh L.
[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo: Trần Bá N, Trần Văn N2 phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38; điểm s khoản 1 (thêm khoản 2 đối với N) Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Trần Bá N 7 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 03/4/2024.
Trần Văn N2 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- * Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì dán kín của Phòng K - Công an thành phố H, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Q, cán bộ công an Nguyễn Văn C và các đối tượng Trần Văn N2, Trần Bá N;
- - 01 (một) chai nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa màu tím;
- - 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng;
- * Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, vỏ màu bạc, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Bá N, không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong, số Model trên vỏ máy A1688 FCC ID:BCG-E2946A IC: 579C-E2946A;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, vỏ màu bạc, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn N2, không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong, số IMEI 358759053465992;
- * Trả lại anh Nguyễn Văn L:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, thu giữ
- (Tình trạng các vật chứng trên như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ).
- Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 109/2024/HS -ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 109/2024/HS -ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
