|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH –TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lương Văn Cẩu
- Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm- Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu
Hồng Em – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 299/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 170/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 và giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1995 (có mặt)
Nơi cư trú: tổ 5, ấp Cần Thới, xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
2. Bị đơn: Anh Trương Thanh Q, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ 02, khóm Vĩnh Lộc, TT Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 12/9/2023 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Q tự tìm hiểu, tiến tới hôn nhân năm 2014 có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang số 87 ngày 28/9/2018. Sau khi cưới, vợ chồng đi làm ở Bình Dương. Đến năm 2015 về quê sinh con và sống chung với gia đình cha mẹ chồng. Cuộc sống vợ chồng sống H phúc đến năm 2022 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh Q không lo cho cuộc sống vợ con, chị nhiều lần khuyên, anh Q không thay đổi. Từ tháng 08/2023 chị cùng 02 con về nhà cha mẹ ruột chị sống và vợ chồng ly thân thời gian đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị không còn tình cảm với anh Q nên yêu cầu ly hôn.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Quốc Thái sinh ngày 28/6/2015 và cháu Trương Thị Ngọc Hân sinh ngày 29/10/2019. Hiện các con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi các con chung không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi các con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trương Thanh Q vắng mặt trong quá trình tố tụng
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng H vẫn giữ yêu cầu ly hôn; về con chung: yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi các con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Trương Thanh Q vắng mặt tại phiên tòa không tham gia tố tụng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
+ Về việc chấp hành pháp luật: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ tranh chấp: chị Nguyễn Thị Hồng H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ biên bản xác minh tại Công an thị trấn Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang thể hiện: “anh Q có đăng ký HKTT tại tổ 02, khóm Vĩnh Lộc, TT Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Hiện anh Q còn sinh sống tại địa phương...”. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng thực hiện theo quy định tại 179 BLTTDS 2015. Anh Q không có mặt tại phiên tòa khi được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Q
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: giữa chị H và anh Q có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang số 87 ngày 28/9/2018 phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 3, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H với anh Q. Mục đích tạo điều kiện cho anh chị đoàn tụ; nhưng chị H vẫn giữ yêu cầu ly hôn; anh Q không đến Toà án để tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án. Anh Q không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70,72 BLTTDS.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Giữa chị H và anh Q đã ly thân một thời gian dài, trong khoảng thời gian ly thân cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Như vậy cả anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt theo quy định tại Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014. Do đó, yêu cầu của chị H có căn cứ được HĐXX xem xét chấp nhận.
2.2 Về con chung: Giữa chị H với anh Q có 02 con Trương Quốc Thái sinh ngày 28/6/2015 và Trương Thị Ngọc Hân sinh ngày 29/10/2019 hiện các con đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi các con chung; không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi các con chung
Anh Q không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Cháu Trương Quốc Thái tại phiên tòa cháu trình bày ý kiến có nguyện vọng tiếp tục sống chung với mẹ (chị H). Do đó, phù hợp với quy định tại các Điều 53, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Hồng H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[4] Quyền kháng cáo:
Cgi5 H, anh Q có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 5, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng H; Chị H được ly hôn với anh Trương Thanh Q
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng H được tiếp tục nuôi chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung Trương Quốc Thái sinh ngày 28/6/2015 và Trương Thị Ngọc Hân sinh ngày 29/10/2019. Chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh Q trong việc được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.
- Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004534 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29.7.2024); Riêng anh Trương Thanh Q có quyền kháng cáo bản án kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Thùy Trang |
5
Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 109/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu ly hôn với ông Q
