TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2023/HS-ST Ngày: 28-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Trương Văn M, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Là đảng viên Đ; con ông Trương Đức M1 – sinh năm 1960 (đã chết) và con bà Lê Thị T - sinh năm 1960; vợ: Vàng Thị T1 – sinh năm 1993; con: có 02 con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018).
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/10/2023 đến ngày 25/10/2023 tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và T2 hoãn xuất cảnh. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân V - sinh năm 1989; HKTT: thôn P, C, L, Hòa Bình (văng mặt)
* Người chứng kiến: Anh Mai Tiến T3 – sinh năm 1977 (vắng mặt) HKTT: Thôn T, xã C, huyện Ứ, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 16/10/2023, tổ công tác công an xã C phối hợp với Đội canh sát giao thông, trật tự Công an huyện Ứ làm nhiệm vụ tại khu vực thôn T, xã C, huyện Ứ phát hiện Trương Văn M, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã V, huyện Ứ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 29M1-156.04 có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện M thả từ tay trái xuống đất 01 gói màu trắng kích thước (1x0.5)cm bên trong có chất bột màu trắng. Tại chỗ, M khai nhận chất bột màu trắng là ma tuý M vừa đi mua về để sử dụng cho bản thân.
Sau đó, Tổ công tác cho tang vật vào phong bì kín niêm phong, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Văn M, đưa đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an xã C và thông báo cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ tiếp nhận xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, M khai nhận số ma tuý trên M tìm mua của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng, việc mua bán diễn ra tại khu vực cánh đồng thôn C, xã C, huyện Ứ. M liên lạc với người đàn ông qua số điện thoại 0868.195.xxx. M không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói nhỏ kích thước (1x0,5)cm bên ngoài bọc bằng giấy trắng, bên trong có chất bột màu trắng;
- - 01 xe mô tô Wave an pha màu xanh đen BKS 29M1-156.04, số máy JA39E3009961, số khung RLHJA3928PY403355.
- - 01 điện thoại Samsung Galaxy A50 màu đen
Ngày 16/10/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 224 đối với số ma tuý thu giữ được của Trương Văn M.
Tại kết luận giám định số 7052/KL - KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,373 gam”
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 110/CT-VKS ngày 23 tháng 11 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Trương Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS: xử phạt bị cáo M từ 12 tháng đến 15 tháng tù tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ số ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định; tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A50 màu đen. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi và quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Điều tra viên Công an huyện Ứ đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, phù hợp với các quy định của BLTTHS.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình thẩm tra tại phiên tòa bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 16/10/2023, Trương Văn M đã cất giấu trái phép 0,373 gam chất ma tuý Heroine, mục đích để sử dụng. Khi M đi trên đường thuộc địa phận thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Trương Văn M đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được Nhà nước ta nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý dưới mọi hình thức nhưng bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung cần có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số ma túy: Thông qua số điện thoại 0868.195.xxx mà Trương Văn M cung cấp, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứ đã tiến hành xác minh xác định trên địa bàn xã C có Nguyễn Trường Q, sinh năm 1986, trú tại thôn C, xã C đăng ký chính chủ thuê bao và sử dụng số điện thoại 0868.195.xxx. Qua làm việc với Nguyễn Trường Q, Q không nhớ ngày 16/10/2023 có những ai gọi cho mình, cụ thể nội dung như thế nào, điện thoại của Q không có lịch sử cuộc gọi. Q trình bày do máy hay bị hỏng nên thường xuyên tháo ra, lắp vào nên mất dữ liệu. Q khẳng định bản thân không biết M, Q không bán ma tuý cho ai, cũng không bán ma tuý cho M. Ngoài lời khai của M, không còn tài liệu gì khác để chứng minh Q bán ma tuý cho M, nên không đủ căn cứ xử lý đối với Nguyễn Trường Q.
[6] Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh BKS 28M1-156.04, quá trình điều tra làm rõ: Chiếc xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Xuân V, sinh năm 1989, trú tại xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình là bạn của M. Ngày 16/10/2023, anh V cho M mượn xe nhưng không biết M sử dụng vào mục đích đi mua chất ma túy. Qua tra cứu, chiếc xe trên cũng phải là tang vật trong vụ án nào. Ngày 14/11/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 51 bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là anh V là có căn cứ, đúng pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói ma túy gửi lại sau giám định thu giữ của Trương Văn M là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46 và Điều 47 của BLHS;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trương Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Trương Văn M 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ số ngày tạm giữ từ 16/10/2023 đến 25/10/2023.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đựng trong một phong bì niêm phong gửi lại sau giám định đề Công an T, đơn vị: Công an huyện Ứ, tên đối tượng là Trương Văn M – sinh năm 1988, HKTT: thôn T, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A50 màu đen. (Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 30/11/2023)
- Về án phí: Bị cáo Trương Văn M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định, đồng thời chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền, lợi ích của mình.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Bích Hằng |
Bản án số 109/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 109/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn M 13(Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ số ngày tạm giữ từ 16/10/2023 đến 25/10/2023.
