|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-7-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 170/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/5/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 80/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 08/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1981; thường trú: 7 khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1976; thường trú: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Tổ C, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 20/4/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Vũ Thị H trình bày:
Bà Vũ Thị H và ông Phạm Văn H1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2006 ngày 08/3/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống tại tổ C, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng sống chung thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau và bất đồng trong quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, ông H1 có đánh đập bà H. Vợ chồng bà mặc dù còn sống chung nhà nhưng đã ly thân khoảng 01 năm nay, không còn quan tâm lẫn nhau. Nay bà H xác định tình cảm giữa bà và ông Phạm Văn H1 không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông H1.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Phạm Trung H2, sinh ngày 09/4/2006 và Phạm Trung D, sinh ngày 02/6/2010. Tại đơn khởi kiện bà H đồng ý giao con chung là Phạm Trung D cho ông Phạm Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên nay cháu D xác định muốn ở với bà H nên bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Phạm Trung H2 đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Phạm Văn H1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H1 không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án, đồng thời vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn bà Vũ Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Phạm Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm vào các ngày 08/7/2024, 25/7/2024 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị H và ông Phạm Văn H1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 08/3/2006 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của bà H thì thực tế cuộc sống vợ chồng bà và ông H1 có nhiều mâu thuẫn trầm trọng từ nhiều năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tính không hợp, thường xuyên cãi vã, ông H1 còn có hành vi bạo lực đối với bà H, vợ chồng đã ly thân thời gian dài. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập ông H1 đến Toà án để tham gia phiên hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H1 không đến tham gia hòa giải, điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và chính ông H1 cũng không quan tâm và không muốn hàn gắn. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Bà Vũ Thị H khai quá trình chung sống bà và ông H1 có 02 con chung là Phạm Trung H2, sinh ngày 09/4/2006 và Phạm Trung D, sinh ngày 02/6/2010. Quá trình tố tụng ông H1 không có ý kiến, yêu cầu về con chung. Xét thấy việc giao cháu D cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu D. Mức thu nhập trung bình của bà H hiện nay khoảng hơn 8 triệu đồng/tháng cũng đủ để đảm bảo điều kiện sống cho con chung. Do đó căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà H về con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H tự nguyện không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Đối với cháu Phạm Trung H2 đã trưởng thành nên không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H.
[6] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị H đối với bị đơn ông Phạm Văn H1 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Phạm Văn H1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 08/3/2006).
- Về con chung: Con chung là Phạm Trung H2, sinh ngày 09/4/2006 đã trưởng thành, Toà án không xem xét giải quyết. Ông Phạm Văn H1 giao con chung là Phạm Trung D, sinh ngày 02/6/2010 cho bà Vũ Thị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, bà H và ông H1 đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002931 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 109/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hon
