Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐIỀN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày 25-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Danh.

2. Ông Phạm Hồng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2024/TLHS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Huy L, sinh năm: 1988 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ G, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Huy C, sinh năm: 1962 và bà Đỗ Thị M, sinh năm: 1962; có vợ Trần Thị T, sinh năm: 1992 và 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2010 và nhỏ nhất sinh năm: 2023; tiền án; tiền sự: Không:

Nhân thân: Quyết định số 203/QĐ-QLNN, ngày 17-4-2024 của Chủ tịch UBND xã P, huyện L về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 26-4-2024, Chủ tịch UBND xã P, huyện L ra Quyết định số 207/QĐ-UBND hủy quyết định giao cho cơ sở tiếp nhận quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị bắt tạm giam ngày 27-4-2024 (có mặt).

2. Đặng Hữu C1, sinh năm: 1996 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà A, tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H1 (chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm: 1960; chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: Không:

Nhân thân: Quyết định số 202/QĐ-QLNN, ngày 17-4-2024 của Chủ tịch UBND xã P, huyện L về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 26-4-2024, Chủ tịch UBND xã P, huyện L ra Quyết định số 208/QĐ-UBND hủy quyết định giao cho cơ sở tiếp nhận quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị bắt tạm giam ngày 27-4-2024 (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Trần Thị T2, sinh năm: 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  1. Chị Đỗ Thị Như Ý, sinh năm: 2004 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 12-3-2024, Đặng Hữu C1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72K1 - 384.14 (xe do Đỗ Huy L thuê của bà Phạm Thị Thu D, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), đội mũ bảo hiểm, nhưng không cài quai đúng quy cách, không có giấy phép lái xe và không có giấy đăng ký xe theo quy định nên bị Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ và tạm giữ xe nên thông báo cho Đỗ Huy L biết. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72P1 – 1821 (xe mượn của chị Đỗ Thị Như Ý) đến nhà C1 bàn việc lấy xe về trả cho bà D, nhưng C1 chưa nhận được tiền lương nên không có tiền nộp phạt. Do áp lực phải trả xe cho bà D nên L nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác sơ hở trộm cắp bán lấy tiền nộp phạt, nhưng C1 sợ bị bắt không đồng ý. Vì vậy, cả hai bàn với nhau cùng đi làm lấy tiền nộp phạt nên L nói với C1 chở mình về nhà trọ lấy quần áo rồi quay lại nhà C1 ngủ.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13-3-2024, C1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72K1 - 384.14 chở L về nhà trọ tại khu vực ngã 3 L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi đến nơi, L nói C1 đứng đợi trước quán bida “Tường Vy” đối diện với cửa hàng “Lan A 2”, để mình vào nhà lấy quần áo. Sau khi vào nhà L nhìn thấy chùm chìa khóa của em vợ là chị Trần Thị T2 (nhân viên của cửa hàng “Lan Anh 2” do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ) để trên bàn nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong cửa hàng, liền lấy chùm chìa khóa rồi đi ra gặp C1 bàn bạc việc trộm cắp và được C1 đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 50 phút cùng ngày, L nói C1 đứng cảnh giới, còn mình mặc áo mưa, đeo khẩu trang đi bộ sang đường dùng chìa khóa mở cửa đột nhập vào cửa hàng “Lan Anh 2”. Khi vào khu vực quầy tính tiền L phát hiện và lấy trộm được 01 hộp đựng tiền mang ra ngoài rồi cùng nhau đưa về nhà của C1 kiểm đếm được 2.902.000đ. Sau đó, L chia cho C1 292.000đ, còn lại 2.610.000đ để nộp phạt và tiêu xài rồi lấy xe về phòng trọ của mình, trên đường đi thì vứt bỏ hộp đựng tiền, áo mưa, khẩu trang gần khu vực Cảng cá P, thuộc xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Sau khi phát hiện mất tiền, ngày 16-4-2024 chị T2 và ông Đ mới đến Công an xã P, huyện L trình báo sự việc, yêu cầu giải quyết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Đỗ Huy L và Đặng Hữu Công k nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

- Xe mô tô biển kiểm soát 72K1 - 384.14, Đỗ Huy L khai mượn của chị Đỗ Thị Như Ý, nhưng không có giấy tờ đăng ký.

Tại quyết định trưng cầu giám định số 909/QĐ-ĐTTH ngày 20-5-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L yêu cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định: 01 xe mô tô có gắn biển kiểm soát 72K1 - 1821 (loại DREAM. Màu nâu đen); số khung RRKDCG0UM7XP10066, số máy VTTJL1P50FMGN010066, số khung, số máy nguyên thủy không.

Tại Kết luận giám định số 168/KL-KTHS-SKSM ngày 27-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Phương tiện cần giám định: số khung, số máy nguyên thủy".

Kết quả xác minh đối với biển kiểm soát 72P1 - 1821 và số khung, số máy của xe mô tô trên là không cùng 01 xe, cụ thể:

+ Biển kiểm soát 72P1 - 1821 là của xe mô tô nhãn hiệu Rooney có số máy VTH150FMG1009450, số khung RRHDCG4RH7A009540 do ông Phạm Văn T3 đứng tên giấy đăng ký xe.

+ Số khung RRKDCG0UM7XP10066, số máy VTTJL1P50FMGN010066 là của xe mô tô nhãn hiệu Mikado biển kiểm soát 72N1 - 6193 do ông Nguyễn Văn R đứng tên giấy đăng ký xe.

+ Qua làm việc, ông T3 và ông R khai đã bán xe cho người khác, nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Chị Ý khai xe mô tô mang biển kiểm soát 72P1 - 1821 có số khung RRKDCG0UM7XP10066, số máy VTTJL1P50FMGN010066 do chị mua lại của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch với giá hơn 2.000.000đ, giấy tờ xe đã bị mất. Do xe mô tô không có giấy tờ đăng ký nên Cơ quan điều tra đã thu giữ, đồng thời ra thông báo tìm chủ sở hữu, nhưng chưa có kết quả. Hiện nay đã chuyển sang Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền bảo quản, chờ xử lý.

+ Hộp đựng tiền, áo mưa và khẩu trang do L vứt bỏ ở khu vực C, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng không có kết quả.

+ Xe mô tô biển kiểm soát 72K1 – 384.14, sau khi nộp phạt hành chính L đã trả lại cho bà Phạm Thị Thu D và thanh toán đủ tiền thuê xe.

Trách nhiệm dân sự:

+ Ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu các bị cáo phải bồi thường 2.902.000đ.

+ Chị Đỗ Thị Như Ý yêu cầu bị cáo L hỗ trợ 1.500.000đ để mua xe khác.

Tại Cáo trạng số 111/CT-VKSLĐ ngày 21-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố các bị cáo Đỗ Huy L và Đặng Hữu C1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị hại ông Nguyễn Văn Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T2 và chị Đỗ Thị Như Ý vắng mặt không có lý do.

Chị Trần Thị T vợ của bị cáo L cung cấp cho Hội đồng xét xử biên lai thu tiền nộp tiền khắc phục hậu quả cho các bị cáo và không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội, hậu quả xảy ra cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Trách nhiệm hình sự tuyên bố các bị cáo Đỗ Huy L và Đặng Hữu C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Huy L từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hữu C1 từ 06 tháng đến 08 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát xe mô tô 72P1 – 1821.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô có số khung: PRKDCG0UM7XP10066, số máy: VTTJL1P50MG010066.

Trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận việc bị cáo L tác động gia đình nộp 2.902.000đ để bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả.

- Ghi nhận bị cáo L tự nguyện hỗ trợ cho chị Ý 1.500.000₫.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để sớm được trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại ông Nguyễn Văn Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T2 và chị Đỗ Thị Như Ý vắng mặt và đã có lời khai tại Cơ quan điều tra trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định nội dung vụ án như sau: Do không có tiền nộp phạt vi phạm hành về lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ nên Đỗ Huy L và Đặng Hữu C1 rủ nhau trộm cắp tài sản bán lấy tiền đóng phạt. Đến khoảng 01 giờ 50 phút ngày 13-3-2024, tại cửa hàng thực phẩm sạch “Lan Anh” thuộc ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ, L và C1 có hành vi lén lút trộm cắp 2.902.000đ để trong hộp đựng tiền của của hàng. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng không có ý thức tôn trọng pháp luật, chỉ vì muốn có tiền nộp phạt vi phạm hành chính mà bất chấp quy định, cố ý thực hiện tội phạm.

[4] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ của từng người, để có tiền nộp phạt mà nhất thời phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Do đó, khi lượng hình có xem xét đến vai trò, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả gây ra cũng như đặc điểm nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét, quyết định hình phạt.

[4.1] Bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người chủ mưu, khởi xướng, lôi kéo bị cáo C1 cùng tham gia và trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội.

[4.2] Bị cáo C1 tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm thụ động, không trực tiếp chiếm đoạt tài sản, nhưng là người cảnh giới để cho bị cáo L thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên phải chịu mức hình phạt tương xứng, nhưng nhẹ hơn so với L.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng có nhân thân xấu nên quá trình lượng hình có xem xét để cân nhắc mức hình phạt cho phù hợp theo quy định.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong thời gian chuẩn bị xét xử bị cáo L đã tác động gia đình nộp tiền để bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả, được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Từ những nhận định và phân tích nêu trên, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1] Ghi nhận việc bị cáo L tác động gia đình nộp 2.902.000đ để bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả.

[7.2] Bị cáo L đồng ý hỗ trợ cho chị Ý 1.500.000đ là hoàn toàn tự nguyện nên ghi nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

[8.1] Đối với biển kiểm soát 72P1 - 1821 là của xe mô tô nhãn hiệu Rooney có số máy VTH150FMG1009450, số khung RRHDCG4RH7A009540 do ông Phạm Văn T3 đứng tên trên giấy đăng ký xe, ông T3 khai đã bán xe cho người khác, nhưng chưa sang tên, đổi chủ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8.2] Đối với xe mô tô có số khung RRKDCG0UM7XP10066, số máy VTTJL1P50FMGN010066 là của xe mô tô nhãn hiệu Mikado biển kiểm soát 72N1 - 6193 do ông Nguyễn Văn R đứng tên trên giấy đăng ký xe. Qua làm việc ông R khai đã bán xe cho người khác, nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Chị Ý khai mua lại của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch và không có giấy tờ đăng ký nên Cơ quan điều tra đã ra thông báo tìm chủ sở hữu chưa có kết quả. Xe các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định. Nếu có phát sinh tranh chấp chủ sở hữu hợp pháp có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[8.3] Đối với 01 USB, màu trắng chứa đựng dữ liệu điện tử ghi lại hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên lưu theo hồ sơ vụ án.

[8.4] Đối với số tiền 2.902.000đ, chị Trần Thị T nộp thay bị cáo để bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả nên tiếp tạm giữ để thi hành án.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo L còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Huy L và Đặng Hữu C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Huy L 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27-4-2024.

1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu C1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27-4-2024.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 357, 584, 585, 587, 589 và 468 của Bộ luật Dân sự,

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đỗ Huy L đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đ 2.902.000 (hai triệu, chín trăm không hai nghìn) đồng và hỗ trợ cho chị Đỗ Thị Như Ý 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô 72P1 - 1821.

3.2 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô có số khung: PRKDCG0UM7XP10066, số máy: VTTJL1P50MG010066.

3.3 Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB, màu trắng.

3.4 Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.902.000 (hai triệu, chín trăm không hai nghìn) đồng để bồi thường cho bị hại.

(Vật chứng đang được Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng số 103/BB-CCTHADS ngày 21-6-2024 và Biên lai thu tiền số 0002239 ngày 25-7-2024).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

4.1 Buộc bị cáo Đỗ Huy L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tổng cộng phải nộp 500.000 (năm trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm.

4.2 Buộc bị cáo Đặng Hữu C1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

6. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, đương sự;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Điền;
  • - Công an huyện Long Điền;
  • - CCTHA dân sự huyện Long Điền;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án...

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do không có tiền nộp phạt vi phạm hành về lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ nên Đỗ Huy L và Đặng Hữu C rủ nhau trộm cắp tài sản bán lấy tiền đóng phạt. Đến khoảng 01 giờ 50 phút ngày 13-3-2024, tại cửa hàng thực phẩm sạch “L” thuộc ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ, L và C có hành vi lén lút trộm cắp 2.902.000đ để trong hộp đựng tiền của của hàng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger