Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 109/2024/HS-PT

Ngày 24/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.

Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Trung

Bà Tôn Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 104/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo Đỗ Thanh T do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Thanh T1 (Đỗ Thanh T); Sinh ngày 07/8/1999; Nơi sinh: Xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Thành T2 và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Có 02 tiền án: Lần 1, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2020/HS-ST, ngày 30/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Đỗ Thanh T bị xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 01/3/2021; Lần 2, tại Bản án số 15/2022/HS-PT ngày 29/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Đỗ Thanh T bị xử phạt 02 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; Tiền sự: Có 01 tiền sự là tại Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 31/01/2024 Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, Đỗ Thành T3 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; Nhân thân: Tại Quyết định số 02/QĐ-TA ngày 02/01/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Đỗ Thành T3 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác không liên quan đến kháng cáo Tòa án không triệu tập gồm: Bị hại bà Nguyễn Thị Y, ông Lâm Văn C, ông Quách T4, ông Võ Văn Ô, ông Lâm Thương H1; Người làm chứng ông Nguyễn Chí C1, ông Huỳnh Công K, bà Huỳnh Ngọc M, bà Đào Thị T5, bà Nguyễn Thị Thùy M1, bà Nguyễn Thị Thùy N, ông Nguyễn Trí T6, ông Sơn Chí N1, bà Huỳnh Ngọc G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo là học viên đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng. Đến ngày 24/02/2024 bị cáo trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng về Vĩnh Long. Đến sáng ngày 03/4/2024 bị cáo về khu vực thị xã N và đến nhà nghỉ G1, ở khóm T, phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng để thăm bạn gái. Khoảng 09 giờ 25 phút, ngày 03/4/2024 nhận được tin báo của nhân dân phát hiện bị cáo Đồ Thanh T1 có mặt tại nhà nghỉ G1, ở khóm T, Phường B, thị xã N, nên ông Lâm Văn C, chức vụ Phó trưởng Công an P và các anh Quách T4, Võ Văn Ô và Lâm Thường H2 đều là cán bộ Công an Phường 2, phối hợp cùng lực lượng Công an thị xã N, tiến hành kiểm tra tại phòng 05 nhà nghỉ G1, phát hiện bị cáo Đỗ Thanh T1 đang lẫn trốn trong nhà vệ sinh. Khi đó, lực lượng Công an yêu cầu bị cáo T1 về Trụ sở cơ quan Công an để làm việc thì ngay lập tức bị cáo T1 dùng gậy ba khúc tấn công vào lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ, đồng thời bị cáo trèo lên trần la phông nhà nghỉ rồi chạy xuống lần trốn ở phòng số 01. Tại đây bị cáo lấy con dao sắc nhọn dài 10cm gắn vào đầu ống kim loại dài 130cm để làm hung khí. Lực lượng Công an đứng trước cửa phòng số 01 thuyết phục và kêu gọi bị cáo bỏ hung khí xuống để chấp hành về cơ quan Công an làm việc. Bị cáo T1 ở trong phòng nói “chấp nhận bỏ hung khí”, nên lực lượng Công an mở cửa phòng số 01 ra, thì bị cáo hai tay cầm ống kim loại dài 130cm, trên đầu có gắn lưỡi dao sắc nhọn dài 10cm, chạy ra đâm liên tục về phía ông C, anh T4, anh Ô và anh H2 để trốn chạy ra ngoài đường Quản lộ P. Khi bị lực lượng Công an bao vây và thấy không thể trốn thoát được nên bị cáo chạy vào nhà của ông Nguyễn Văn C2, ở khóm T, Phường B, thị xã N nhặt lấy con dao dài 22,3cm, cán nhựa màu xanh, rồi khống chế bà Nguyễn Thị Y, ở khóm T, Phường B, thị xã N để làm con tin. Bị cáo T1 dùng một tay câu cổ bà Y, tay còn lại cầm con dao kề vào cổ của bà Y và đe dọa giết nếu lực lượng Công an đến gần bị cáo. Bị cáo T1 khống chế và đưa bà Y quay trở lại phòng số 01 của nhà nghỉ G1. Khi vào phòng bị cáo có hành động la hét và liên tục nói lời đe dọa sẽ giết chết bà Y lập tức nếu Công an tiếp cận với bị cáo. Trước sự manh động, liều lĩnh của bị cáo và để đảm bảo an toàn tính mạng cho bà Y nên lực lượng Công an của các Phòng cảnh sát cơ động, Phòng C3 và Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh S được tăng cường đến nhà nghỉ G1 động viên thuyết phục bị cáo thả bà Y ra. Sau đó, bị cáo đưa ra yêu cầu Công an bố trí chiếc xe Taxi cho bị cáo trốn nếu không sẽ giết chết bà Y. Thấy vậy, lực lượng Công an điều chiếc xe Taxi đến nhưng bị cáo thay đổi ý kiến là yêu cầu

Công an bố trí chiếc xe mô tô. Khi lực lượng Công an bố trí chiếc xe mô tô và kêu gọi bị cáo đi ra ngoài. Bị cáo khống khống chế kề dao vào cổ của bà Y từ trong phòng số 01 đi ra nhưng thấy lực lượng Công an đông, nghĩ không thể lên xe mô tô đi được nên bị cáo liền đưa bà Y quay vào phòng ngủ của bà Nguyễn Thị Thùy M1 là chủ nhà nghỉ. Tại đây, bị cáo T1 yêu cầu Công an đưa chị Huỳnh Ngọc G là bạn gái của bị cáo đến gặp bị cáo rồi sẽ thả bà Y ra. Lực lượng Công an đưa chị Huỳnh Ngọc G đến và động viên bị cáo thả bà Y ra. Lúc này, bị cáo T1 khống chế kề dao vào cổ của bà Y, tung cửa phòng đi ra và đưa sang qua phòng số 04 nhà nghỉ. Bị cáo tiếp tục dùng lời lẽ lớn tiếng đe dọa sẽ giết chết bà Y nếu Công an đến gần bị cáo. Đến khoảng 14 giờ 15 phút, cùng ngày 03/4/2024 sau nhiều giờ bị khống chế bắt giữ và hoảng sợ bà Y đã ngất xỉu, cùng lúc này lực lượng Công an đã đột nhập, khống chế và tướt lấy con dao trên tay bị cáo và đưa bị cáo về trụ sở Công an. Đồng thời, đưa bà Nguyễn Thị Y lên xe cứu thương đến Trung tâm y tế thị xã N để cấp cứu. Sau khi tỉnh dậy bà Y kiểm tra phát hiện bị mất 01 đôi bông tai vàng 17K.

Theo kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG ngày 22/4/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã N, thì 02 chiếc bông tai bằng vàng 17K trọng lượng 6,2 phân, hình tròn đồng tiền đính đá màu trắng trị giá số tiền 3.598.000 đồng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 02/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 301, điểm đ khoản 2 Điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, Điều 50 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Đồ Thanh T1 phạm các tội “Bắt cóc con tin” và tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt bị cáo Đồ Thanh T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt cóc con tin” và 04 (bốn) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đỗ Thanh T1 phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/4/2024

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

*Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 13/8/2024, bị cáo Đỗ Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
  • - Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét Đơn kháng của bị cáo lập và được nhà tạm giữ Công an thị xã N xác nhận vào ngày 13/8/2024 là đảm bảo về hình thức và nội dung kháng cáo, đúng người có quyền kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ xác định: Ngày 24/02/2024 bị cáo trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng về Vĩnh Long. Đến sáng ngày 03/4/2024 bị cáo về khu vực thị xã N và đến nhà nghỉ G1, ở khóm T, phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng để thăm bạn gái. Đến khoảng 09 giờ 25 phút, ngày 03/4/2024 lực lượng Công an phát hiện bị cáo và mời về làm việc. Do sợ bị bắt lại nên bị cáo đã dùng con dao sắc nhọn dài 10cm gắn vào đầu ống kim loại dài 130cm để làm hung khí chống lại nhằm chạy thoát. Khi chạy ra ngoài đường Q do thấy lực lượng Công an bao vây nên bị cáo chạy vào nhà của ông Nguyễn Văn C2, ở khóm T, phường B, thị xã N nhặt lấy con dao dài 22,3cm, cán nhựa màu xanh, rồi khống chế bà Nguyễn Thị Y, ở khóm T, phường B, thị xã N để làm con tin nhằm mục đích không cho Công an tiến lại gần để bắt bị cáo. Bị cáo dùng một tay câu cổ bà Y, tay còn lại cầm con dao kề vào cổ của bà Y và đe dọa giết nếu lực lượng Công an đến gần bị cáo. Bị cáo khống chế và đưa bà Y quay trở lại nhà nghỉ G1. Sau đó, bị cáo yêu cầu Công an điều xe Taxi, xe gắn máy mục đích để chạy chốn nhưng không được. Đến khoảng 14 giờ 15 phút, cùng ngày 03/4/2024 sau nhiều giờ bị khống chế thì bà Y đã ngất xỉu, lực lượng Công an đã đột nhập, khống chế và tướt lấy con dao trên tay bị cáo và bắt bị cáo về trụ sở Công an. Trong quá trình chống đối lực lượng Công an vây bắt cũng như khống chế bà Y thì bị cáo không có gây thương tích cho ai

[3] Như vậy, Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt cóc con tin” theo khoản 1 Điều 301 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Chống người thi hành công vụ” theo điểm đ khoản 2 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo

về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tộ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo, về việc giảm hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên khi thực hiện hành vi phạm tội “Bắt cóc con tin” là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Đồng thời Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; Bị cáo có trình độ học vấn thấp (không biết chữ) nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đồng thời, tại phiên tòa bị hại bà Nguyễn Thị Y xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật và Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt cóc con tin” và 04 (bốn) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo hoặc tỉnh tiết tăng nặng nào cấp sơ thẩm áp dụng không đúng đối với bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo là chưa đủ căn cứ chấp nhận.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo là người kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm và cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên theo quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

[7] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 301, điểm đ khoản 2 Điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, Điều 50 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)..

Xử phạt bị cáo Đồ Thanh T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt cóc con tin” và 04 (bốn) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đồ Thanh T1 phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/4/2024.

* Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Về án phí hình sự phúc thẩm:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Bị cáo Đỗ Thanh T (Đồ Thanh T1) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm

5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND Thị xã Ngã Năm;
  • - TAND Thị xã Ngã Năm;
  • - CQCSĐT - Công an Thị xã Ngã Năm;
  • - CQTHAHS - Công an Thị xã Ngã Năm;
  • - Chi cục THADS Thị xã Ngã Năm;
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Sóc Trăng;
  • - Ph. KTNV&THATAND T. Sóc Trăng;
  • - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Nguyễn Thành Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về bắt cóc con tin và chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 109/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Bắt cóc con tin và Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger