Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/DS-ST

Ngày 24 tháng 9 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Văn Bộ

2. Bà Ngô Thị Hồng Uyên

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Nga -Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Vi Đăng Khoa- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 112/2024/TLST-DS ngày 07/5/024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 128/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (O).

Địa chỉ: Số D (tầng trệt, lửng 1, 2 của tòa nhà) và 45 đường L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Dương V. Chức vụ: Trưởng phòng BHTT và Digital kiêm Phó giám đốc chi nhánh H.

Theo văn bản ủy quyền số 16/2023/UQ-CT.HĐQT ngày 14/3/2023.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

Ông Phạm Duy M – Phòng thu hồi nợ khối RB(có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số B C, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Theo giấy ủy quyền số 121.1/2024/UQ-OCB ngày 12/01/2024.

Bị đơn: Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1993(vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1997(vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/01/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn do ông Phạm Duy M trình bày:

Ông Ngô Văn T1 (sau đây gọi tắt là “Khách hàng”) đã thỏa thuận ký kết Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/07/2022 sau đây gọi chung là “Hợp đồng 1” với Ngân hàng TMCP P (O) để vay vốn, chi tiết như sau:

  • Số tiền vay: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng)
  • Mục đích vay: mua sắm trang thiết bị nội thất.
  • Thời hạn vay : 60 tháng.
  • Lãi suất vay: 17.9%/ năm
  • Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn

Quá trình thực hiện hợp đồng 1 ông Ngô Văn T1 đã trả cho Ngân hàng được 39.625.400 đồng (Trong đó: Tiền gốc: 17.674.007 đồng; Tiền lãi: 21.869.113 đồng; Tiền lãi phạt: 82.280 đồng). Nợ vay của Ông Ngô Văn T1 tại OCB phát sinh từ Hợp đồng 1 tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 136.586.959 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 112.325.993 đồng; Nợ lãi là 21.758.216 đồng; Nợ lãi quá hạn là 1.668.500 đồng, tiền phạt chậm trả lãi là 834.250 đồng).

Ông Ngô Văn T1 đã thỏa thuận ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thông toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 01/08/2022 sau đây gọi chung là “Hợp đồng 2” với Ngân hàng TMCP P (O) để vay vốn, chi tiết như sau:

  • Số tiền vay: 69.000.000 đồng (Sáu mươi chín triệu đồng)
  • Mục đích vay: mua hàng trực tuyến, thông toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thông toán bằng thẻ tín dụng,
  • Thời hạn vay : 60 tháng.
  • Lãi suất vay: 30%/ năm
  • Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn

Sau khi ký kết Hợp đồng 2, OCB đã cấp hạn mức và thực hiện giải ngân số tiền vay nêu trên.

Nợ vay của ông Ngô Văn T1 tại O phát sinh từ Hợp đồng 2 tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 107.544.955 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 68.896.646 đồng; Nợ lãi là 30.777.045 đồng; Nợ lãi quá hạn, phí là 7.781.264 đồng).

Trước khi mở phiên tòa, OCB xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Ngô Văn T1 về việc thanh toán nợ phí thẻ tín dụng với tổng số tiền phí 7.781.264 đồng. Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Ngô Văn T1 về việc thanh toán nợ gốc thẻ tín dụng, nợ lãi trong hạn thẻ tín dụng, lãi quá hạn thẻ tín dụng với tổng số tiền tính đến ngày 24/09/2024 là 99,673,691 đồng trong đó: Nợ gốc: 68,896,646 đồng; Nợ lãi: 30,777,045 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Ông Ngô Văn T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong các Hợp đồng đã ký kết với O. OCB đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho OCB nhưng ông Ngô Văn T1 vẫn không thanh toán nợ vay cho O. Ngân hàng TMCP P đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc ông Ngô Văn T1 trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của hai Hợp đồng tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 236.260.650 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 181.222.639 đồng; Nợ lãi là 52.535.261 đồng; Nợ lãi quá hạn là 1.668.500, tiền phạt chậm trả lãi là 834.250 đồng). Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (24/9/2024) ông T1 phải tiếp tục chịu tiền lãi, phí phát sinh theo hai hợp đồng đã ký kết cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P.

Bị đơn ông Ngô Văn T1 trình bày: Năm 2022, do thiếu vốn làm ăn nên ông có vay vốn của Ngân hàng TMCP P. Cụ thể: ngày 22/7/2022 ông có ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ vay số tiền gốc 130.000.000 đồng và giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thông toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 01/08/2022 số tiền gốc là 69.000.000 đồng. Về thời hạn vay, mục đích vay và lãi suất như nguyên đơn trình bày là đúng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông có trả cho nguyên đơn một số tiền gốc và tiền lãi nhưng ông không nhớ là trả bao nhiêu. Nay nguyên đơn yêu cầu ông phải trả số tiền gốc và tiền lãi còn nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết thì ông đồng ý nhưng do ông gặp khó khăn nên ông xin được trả dần.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L trình bày: bà và ông Ngô Văn T1 kết hôn năm 2016. Đối với số tiền ông T1 vay Ngân hàng TMCP P thì bà không biết và ông T1 không cũng không bao giờ nói với bà về khoản tiền này. Bà xác định không có liên quan và không có nghĩa vụ trả nợ. Ông T1 vay thì ông T1 phải trả nợ cho Ngân hàng. Bà L không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Duy M xin vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Văn T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 357 Bộ luật dân sự, Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P.

Buộc ông Ngô Văn T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của hai Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 236.260.650 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 181.222.639 đồng; Nợ lãi là 52.535.261 đồng; Nợ lãi quá hạn là 1.668.500, tiền phạt chậm trả lãi là 834.250 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 25/9/2024 cho đến khi ông Ngô Văn T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với ông Ngô Văn T1 về việc thanh toán nợ phí thẻ tín dụng với tổng số tiền 7.781.264 đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Ông Ngô Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP P theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại H nên Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 35; khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Văn T1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của O yêu cầu ông Ngô Văn T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của hai Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 236.260.650 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 181.222.639 đồng; Nợ lãi là 52.535.261 đồng; Nợ lãi quá hạn là 1.668.500, tiền phạt chậm trả lãi là 834.250 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 25/9/2024 cho đến khi ông Ngô Văn T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P thì thấy: Trong quá trình giải quyết nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc có ký các hợp đồng tín dụng, bị đơn đồng ý trả nợ gốc, nợ lãi theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng đề nghị được trả dần đây là chứng cứ không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn không yêu cầu bà L có nghĩa vụ trả nợ cùng ông T1, ông T1 khai bà L không biết việc vay nợ nên bà L không phải có nghĩa vụ trả nợ cùng ông T1.

[4] Về lãi suất: Do các bên đã có thỏa thuận về lãi suất, lãi suất quá hạn và phạt chậm trả theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, ông T1 đồng ý trả lãi nên ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P khoản lãi suất theo quy định trong các hợp đồng đã ký.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Ngô Văn T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền còn nợ theo hai hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Ngô Văn T1 về việc thanh toán nợ phí thẻ tín dụng (Hợp đồng 2) với tổng số tiền 7.781.264 đồng là sự nguyện của nguyên đơn nên cần chấp nhận và đình chỉ một phần đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông T1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, cần áp dụng các Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự để tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 357 Bộ luật dân sự, Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P.
  2. Buộc ông Ngô Văn T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của hai Hợp đồng đã ký kết tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 236.260.650 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 181.222.639 đồng; Nợ lãi là 52.535.261 đồng; Nợ lãi quá hạn là 1.668.500, tiền phạt chậm trả lãi là 834.250 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 25/9/2024 cho đến khi ông Ngô Văn T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P.
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với ông Ngô Văn T1 về việc thanh toán nợ phí thẻ tín dụng với tổng số tiền 7.781.264 đồng.
  4. Về án phí: Ông Ngô Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.813.000đồng(mười một triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).

    Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 4.949.000 đồng cho Ngân hàng TMCP P theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003913 ngày 07/5/2024.

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND T. Bắc Giang;
  • -VKSND H. Hiệp Hòa (2 b);
  • -CC THADS H.Hiệp Hòa;
  • -Đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Đào Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 109/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng O - Ngô Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger