|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 23-09-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Hiệu.
- Bà Đinh Kim Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/TLST-HS ngày 06 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 09 năm 2024 đối với:
Các bị cáo:
1/ Nguyễn Phúc D; sinh ngày 07 tháng 01 năm 1978 tại An Giang; hộ khẩu thường trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phúc Đ và bà Nguyễn Thị Quỳnh M; có vợ tên Đinh Thị Kim H và không có con chung; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bắt tạm giam ngày 31/12/2023 “có mặt”.
2/ Phạm Tuấn N; sinh ngày 12 tháng 09 năm 1975 tại Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: 3 N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình T và bà Nguyễn Thị Bích N1; có vợ tên Ngô Mai T1 và có một con chung sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bắt tạm giam ngày 31/12/2023 “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Phúc Đ, sinh năm 1951 “có mặt”.
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn Nghĩa 1 người nghiện ma túy. Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, Nguyễn Phúc D nhắn tin rủ Phạm Tuấn N hùn tiền mua ma túy để sử dụng và được N đồng ý. Sau đó, Nguyễn Phúc D điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 67C1-708.52 chạy đến nhà của Phạm Tuấn N tại số C N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh để chở N đi qua khu vực Quận D mua ma túy. Trên đường đi, Phạm Tuấn N đưa 100.000 đồng cho Nguyễn Phúc D để hùn mua ma túy. Nguyễn Phúc D chở Phạm Tuấn N chạy vào bên trong con hẻm trên đường Đ, sau đó rẽ trái vào một con hẻm kế bên ngôi chùa (đối diện trụ sở Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh). Đi đến đây thì Phạm Tuấn N không biết đường nữa nên Nguyễn Phúc D hỏi người dân xung quanh thì được chỉ đi tiếp vào trong hẻm. Khi Nguyễn Phúc D chở Phạm Tuấn N vào bên trong con hẻm thì gặp một người phụ nữ đang ngồi bên vỉa hè. Tại đây, Nguyễn Phúc D hỏi mua hai tép ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng. Người phụ nữ này đồng ý, nhận 200.000 đồng rồi đưa cho Nguyễn Phúc D hai đoạn ống nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Phúc D cầm hai đoạn ống nhựa chứa ma túy trên tay trái rồi điều khiển xe gắn máy chở Phạm Tuấn N đi về nhà. Khi cả hai đi đến bên hông nhà số A H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Sợ bị phát hiện, Nguyễn Phúc D thả hai đoạn ống nhựa chứa ma túy đang cầm trong tay trái xuống đất thì bị Công an phát hiện thu giữ, lập biên bản phạm tội quả tang và đưa cả hai về trụ sở điều tra làm rõ. Qua xét nhiệm ma túy, Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N đều dương tính với chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 703/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1867g (không phẩy một tám sáu bảy gam), loại Heroine (H1), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại Cáo trạng số 120/CT-VKSQ4 ngày 06/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt như sau: Đối với bị cáo Nguyễn Phúc D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với bị cáo Phạm Tuấn N, đề nghị từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Phúc D, Phạm Tuấn N và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; Trả lại ông Nguyễn Phúc Đ 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu trắng, biển số 67C1-708.52, số máy: JF86E-2291611, số khung: RLHJF5839LY012931, đã qua sử dụng; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng và 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 31/12/2023, tại bên hông nhà số A H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N đã có hành vi cất giấu 0,1867 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó Nguyễn Phúc D là người chủ mưu, là người rủ rê, là người điều khiển xe gắn máy chở Phạm Tuấn N đi mua ma túy và là người thực hành trực tiếp mua ma túy. Còn Phạm Tuấn Nghĩa 1 đồng phạm với vai trò giúp sức, là người hùn tiền mua ma túy và là người chỉ đường cho Nguyễn Phúc D tìm mua ma túy.
Đối với người phụ nữ là người do bị cáo Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N khai đã bán ma túy, quá trình điều tra xác định tên Thạch Phương Yến N2. Ngày 11/01/2024, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H đã thụ lý, khởi tố và tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong đó có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.
[4] Về nhân thân:
- - Bị cáo Nguyễn Phúc D không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Bị cáo Phạm Tuấn N không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Thu giữ của Nguyễn Phúc D và Phạm Tuấn N 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Phúc D, Phạm Tuấn N và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét, đây là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
- - Thu giữ của Nguyễn Phúc D 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu trắng, biển số 67C1-708.52, số máy: JF86E-2291611, số khung: RLHJF5839LY012931, đã qua sử dụng. Tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe gắn máy trên do ông Nguyễn Phúc Đ đứng tên chủ sở hữu. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Phúc Đ khai nhận đã mua xe gắn máy trên vào tháng 03 năm 2020. Do không có nhu cầu sử dụng nên ông Nguyễn Phúc Đ cho con trai là Nguyễn Phúc D mượn xe để đi công việc, bản thân ông không biết việc bị cáo sử dụng xe gắn máy để đi mua ma túy. Xét, đây là tài sản cá nhân của ông Nguyễn Phúc Đ và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại.
- - Thu giữ của Nguyễn Phúc D 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng. Xét, đây là công cụ do bị cáo sử dụng để liên lạc rủ Phạm Tuấn N đi mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Thu giữ của Phạm Tuấn N 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng. Xét, đây là công cụ do bị cáo sử dụng để liên lạc với Nguyễn Phúc D đi mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Nguyễn Phúc D, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 12 năm 2023.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Phạm Tuấn N, 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 12 năm 2023.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Phúc D, Phạm Tuấn N và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- - Trả lại ông Nguyễn Phúc Đ 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu trắng, biển số 67C1-708.52, số máy: JF86E-2291611, số khung: RLHJF5839LY012931, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng.
- (Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 133/2024 ngày 23/09/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:
Bị cáo Nguyễn Phúc D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Phạm Tuấn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Phuc D
