Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Thịnh

Ông Phạm Công Gia

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn S; Giới tính: Nam; Sinh năm 1975, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn Đ, thị trấn H (trước đây là xã M), huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1938 (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1940; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: Tại Bản án số 108/2005/HSST ngày 02/12/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2006, chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1967, tại Hà Nam; Nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1946 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 12/HSST ngày 17/4/1996 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng tù về tội “gây rối trật tự công cộng”. Đã được xóa án tích; Tại Bản án số 68/2010/HSST ngày 02/11/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã được xóa án tích; Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Trần Đình H1, sinh năm 1974.(Có mặt)

Nơi cư trú: 278 T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986.(Có mặt)
  2. Nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984.(Vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: thôn Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn HNguyễn Văn S có mối quan hệ quen biết với nhau xuất phát từ việc làm nghề môi giới bất động sản và kinh doanh gỗ sưa. Quá trình làm ăn tại tỉnh Lâm Đồng, SH biết có nhiều người đang tìm mua đá “thiên thạch” có tính năng đặc biệt như: làm bể gương tráng thuỷ, đông cứng thủy ngân trong nhiệt kế y tế; đá có kích thước nhỏ nhưng trọng lượng lớn, nổi lơ lửng trong nước. Tuy không có loại đá này nhưng SH đã bàn bạc để H kể với mọi người và tìm khách hàng có nhu cầu, còn S làm giả các tính năng đặc biệt, tạo dựng lòng tin cho khách hàng đồng ý mua đá nhằm chiếm đoạt tài sản. Ông Mai Văn T, sinh năm 1968, nơi thường trú: 324/1/10, đường B, tổ C, khu phố A, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nghe được tin đồn cho rằng H đang sở hữu đá “thiên thạch” nên vào khoảng giữa năm 2023 đã giới thiệu ông Trần Đình H1, sinh năm 1974, nơi cư trú: số B, đường T phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định là người đang tìm mua đá “thiên thạch” để ông H1H biết nhau. Sau đó T sắp xếp để HS gặp ông H1 tại 01 quán cà phê thuộc thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây HS giới thiệu cho ông H1 biết đang có đá “thiên thạch” nhưng vì viên đá này là vật gia truyền nên không bán cho người ngoài tuy nhiên S, H và ông H1 vẫn lấy số điện thoại của nhau.

Đến cuối tháng 11/2023, ông H1 liên lạc với S hỏi việc mua đá “thiên thạch” và yêu cầu S cung cấp căn cước công dân để làm hợp đồng mua bán thì S đồng ý rồi đặt trên mạng xã hội (không rõ thông tin) làm giả 01 căn cước công dân số [...] mang tên “Nguyễn Văn S1”, nơi thường trú: ấp E, X, X, Đồng Nai và gửi căn cước này cho ông H1 soạn thảo hợp đồng. Sau đó, SH thống nhất gọi nhau bằng tên giả, S sử dụng tên “S1” còn H sử dụng tên “Sáu”để che giấu lại lịch của bản thân trong quá trình thương lượng trao đổi với ông H1.

Sáng ngày 01/12/2023, ông H1 gặp SH tại quán cà phê "Giáng My" thuộc thị trấn T, huyện T để thoả thuận mua bán đã thiên thạch với giá 100.000.000 USD (khoảng 2.400.000.000.000 đồng hai ngàn bốn trăm tỷ đồng).

Hai bên thống nhất đặt cọc trước số tiền 300.000.000 đồng, sau đó H chở ông H1 đến Ngân hàng A chi nhánh huyện T để ông H1 rút 300.000.000 đồng và mua 01 cái cân đồng hồ, 04 chai nước suối (loại 500ml/chai). Để tạo lòng tin với ông H1, SH dẫn ông H1 đến khu vực vỉa hè trong Khu công nghiệp H để làm giả thử nghiệm các tính năng của đá “thiên thạch” qua các bước như sau:

Sáu mặc áo mưa, đeo găng tay, đội nón bảo hiểm lấy ra 01 cục nhựa hình bầu dục (đá “thiên thạch”), đường kính khoảng 0,5cm, dài khoảng 02cm đặt lên 01 đĩa nhựa rồi lấy túi nylon màu đen đặt lên viên đá. Khoảng 10 phút sau, lợi dụng lúc ông H1 bị H che chắn tầm nhìn, S lấy ra 01 túi nylon màu đen khác (bên trong có 01 gương tráng thuỷ đã bị bể, 01 nhiệt kế y tế giả chứa chất giống như thuỷ ngân đã bị đông cứng) đánh tráo túi nylong màu đen đang đặt trên đĩa cho ông H1 xem để chứng minh là viên đá đã làm bể gương tráng thuỷ và đông cứng thuỷ ngân trong nhiệt kế y tế. Tiếp theo, S đổ 03 chai nước suối vào hũ nhựa, đậy nắp lại đặt lên cân được trọng lượng khoảng 1,8 kg. Sau đó S bỏ viên đá (cục N2) vào hũ nhựa nên nổi lơ lửng trong nước. Lợi dụng lúc ông H1 bị H che chắn tầm nhìn, S lấy ra 01 nắp nhựa khác (bên trong có chứa một lớp kim loại) đánh tráo nắp nhựa ban đầu rồi đậy hũ nhựa lại, đưa lên cân có trọng lượng khoảng 3,3kg để chứng minh viên đá có kích thước nhỏ nhưng trọng lượng lớn. Trong quá trình làm giả thử nghiệm các tính năng của đá “thiên thạch” thì S là người thực hiện còn H làm nhiệm vụ hỗ trợ che chắn tầm nhìn của ông H1 để không bị phát hiện.

Sau khi được kiểm tra đá “thiên thạch”, ông H1 tin tưởng và đồng ý mua nên viết Giấy nhận tiền cọc thì S đưa cho ông H1 CCCD giả số [...] mang tên “Nguyễn Văn S1” còn H sử dụng tên giả là “Hoàng Văn V1”, “Nguyên Vũ” ký với tư cách người làm chứng. Ông H1 giao cho S 300.000.000 đồng còn S giao cho ông H1 01 ống nhựa, cao khoảng 10cm, đường kính khoảng 06cm, bên trong có 01 lớp kim loại, bên ngoài quấn băng keo đen để ông H1 tin là có viên đá “thiên thạch” bên trong. Sau đó SH hẹn ông H1 gặp nhau tại khu vực cầu L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để tiếp tục giao dịch mua bán rồi lại thay đổi qua chỗ ông H1 thuê nhà nghỉ tại tỉnh Bình Dương nhưng SH không đến điểm hẹn.

Sau khi chiếm đoạt được số tiền 300.000.000 đồng của ông H1 thì SH chia nhau mỗi người 150.000.000 đồng. Đến ngày 02/12/2023, S tiếp tục liên lạc và yêu cầu ông H1 chuyển khoản 150.000.000 đồng cho S theo số tài khoản 030054243797 tên “Nguyễn Văn S” tại ngân hàng S2 để tiếp tục thực hiện việc mua bán đá “thiên thạch”. Sau khi nhận được tiền ông H1 chuyển thì S chặn liên lạc. Ông H1 đã nhiều lần liên lạc với SH nhưng không được nên làm đơn tố giác đến cơ quan Công an. Tổng số tiền ông Trần Đình H1 bị chiếm đoạt là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Riêng Nguyễn Văn H ban đầu khai nhận hành vi đồng phạm cùng S nhưng sau đó đã phản cung cho rằng mình chỉ là môi giới và được S chia số tiền 150.000.000 đồng là tiền công khi giao dịch mua bán đá giữa S và ông H1 đã được thực hiện.

Vật chứng thu giữ: 01 hũ nhựa màu trắng đục; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ, bên trong nắp có chứa kim loại; 01 khối hình trụ bằng nhựa cao 10cm, đường kính 06cm, bên trong có chứa kim loại; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm không có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 đĩa nhựa màu trắng, đường kính khoảng 15cm (Đều đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (chưa qua sử dụng); 01 viên thuốc sủi hiệu Hapacol; 02 đôi găng tay bằng nhựa, màu vàng (đã qua sử dụng); 02 cục giống nhựa cứng, màu đen, rỗng ruột, dạng bầu dục, dài khoảng 02cm; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm (đã bị vỡ); 01 nhiệt kế thủy ngân y tế (đã bị vỡ); 01 ống hình trụ bằng nhựa màu xanh, đường kính hình trụ khoảng 06cm, cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen bên ngoài (đều đã qua sử dụng); 01 xe mô tô biển số 72C2-501.30; 01 Giấy đăng ký mô tô biển số 72C-501.30; 01 xe ô tô biển số 60A-524.18 (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô biển số 54R2-5399 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu Nokia 3310 màu đen (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu Samsung A31(đã qua sử dụng).

Tại Bản kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn S1, đề ngày tháng năm 10/5/2022 là giả”.

Tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKSTP-ĐN ngày 30 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H bị áp dụng tình tiết “Phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Văn S bị áp dụng thêm tình tiết Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn SNguyễn Văn H được áp dụng tình tiết: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Căn cứ Điều 174 và Điều 341 Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58; Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội từ từ 12 năm đến 13 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H, từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện nộp lại số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn S đã tự nguyện nộp số tiền khắc phục hậu quả là 200.000.000 đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Văn S trả lại ông Trần Đình H1 số tiền 100.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng thu giữ:

  • Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô biển số 72C2-501.30 và 01 Giấy đăng ký mô tô biển số 72C-501.30 đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để bảo đảm thi hành án.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 3310 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50s-màu đen.
  • Lưu vào hồ sơ vụ án 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn S1, cấp ngày tháng năm 10/5/2022 là chứng cứ trong vụ án nên.
  • Đối với 01 xe ô tô biển số 60A-524.18; 01 xe mô tô biển số 54R2-5399; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 3310 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A31 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 hũ nhựa màu trắng đục; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ, bên trong nắp có chứa kim loại; 01 khối hình trụ bằng nhựa cao 10cm, đường kính 06cm, bên trong có chứa kim loại; 01 g ương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm không có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 đĩa nhựa màu trắng, đường kính khoảng 15cm (Đều đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (chưa qua sử dụng); 01 viên thuốc sủi hiệu Hapacol; 02 đôi găng tay bằng nhựa, màu vàng (đã qua sử dụng); 02 cục giống nhựa cứng, màu đen, rỗng ruột, dạng bầu dục, dài khoảng 02cm; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm (đã bị vỡ); 01 nhiệt kế thủy ngân y tế (đã bị vỡ); 01 ống hình trụ bằng nhựa màu xanh, đường kính hình trụ khoảng 06cm, cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen bên ngoài (đều đã qua sử dụng).

Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra xác định Mai Văn Thân sinh năm 1968 ngụ 324/1/10, đường B, tổ C, khu phố A, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là người giới thiệu ông H1 gặp H để bàn việc mua bán. Tuy nhiên chưa xác định được T có liên quan với H, S trong việc lừa đảo ông H1. Cơ quan điều tra đã xác minh tại nơi cư trú của T thì không rõ T hiện nay đang ở đâu, làm gì nên chưa đủ cơ sở để kết luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn SNguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Quá trình làm ăn tại tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H biết được việc có nhiều người tìm mua đá “thiên thạch” có tính năng đặc biệt với giá trị cao, mặc dù không có loại đá này nhưng vì hám lợi nên cả hai tung tin đang sở hữu viên đá để lừa bán cho ông Trần Đình H1 nhằm chiếm đoạt tài sản. Để thực hiện hành vi lừa đảo, S đặt trên mạng xã hội làm giả 01 căn cước công dân mang tên “Nguyễn Văn S1” còn H sử dụng các tên giả là “Sáu”, “Hoàng Văn V1”, “Nguyên Vũ” để che dấu lai lịch của bản thân trong quá trình trao đổi thương lượng với ông H1 rồi cùng nhau thử nghiệm giả tạo các tính năng đặc biệt của đá làm ông H1 tin tưởng đặt cọc 300.000.000 đồng để giao dịch mua đá. Sau khi chiếm đoạt số tiền này SH đã chia nhau mỗi người 150.000.000 đồng. Đến ngày 02/12/2023, S tiếp tục liên lạc và yêu cầu ông H1 chuyển 150.000.000 đồng cho S theo số tài khoản 030054243797 tên “Nguyễn Văn S” tại ngân hàng S2 để tiếp tục thực hiện việc mua bán đá “thiên thạch”. Sau khi nhận được tiền ông H1 chuyển thì S chặn liên lạc. Ông H1 đã nhiều lần liên lạc với SH nhưng không được nên làm đơn tố giác đến cơ quan Công an. Tổng số tiền ông Trần Đình H1 bị chiếm đoạt là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn S1, cấp ngày 10/5/2022 là giả”.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại Điều 174 và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” tội danh và hình phạt quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Về tình tiết định khung hình phạt: Do bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chiếm đoạt tài sản đối với số tiền 300.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chiếm tài sản đối với số tiền 450.000.000 đồng nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Do khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng, do đó bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội thuộc trường hợp “Sử dụng tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rốt nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết định khung hình phạt theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của ông H1, các bị cáo đã lên kế hoạch rõ ràng, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, phân công mỗi người đảm nhận một công việc nhất định suốt từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội và trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Văn S đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý; ngoài lần cùng với bị cáo Nguyễn Văn H chiếm đoạt tài sản của ông H1 với số tiền 300.000.000 đồng, bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo yêu cầu ông H1 chuyển vào tài khoản của bị cáo 150.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” và “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Văn S đã bồi thường cho ông H1 200.000.0000 đồng; Gia đình bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường cho ông H1 150.000.000 đồng, để khắc phục hậu quả; Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương

Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đây là vụ án đồng phạm phức tạp, các bị cáo đều là người thực hành, trong đó bị cáo S là người chủ mưu. Đối với tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, việc bị cáo S sử dụng 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn S1, cấp ngày10/5/2022 nhằm để che giấu nhân thân, lai lịch khi hành vi lừa đảo bị phát hiện, bị cáo H không biết nên không phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm về tội phạm này.

[5] Về quyết định hình phạt: Các bị cáo Nguyễn Văn SNguyễn Văn H có nhân thân xấu và phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, giá trị tài sản bị cáo S chiếm đoạt nhiều hơn so với bị cáo H nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo S là cao hơn so với bị cáo H. Đối với bị cáo S thuộc trường hợp phạm nhiều tội nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về Biện pháp tư pháp:

- Ông Trần Đình H1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn S hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S đồng ý toàn bộ nên ghi nhận. Do đó, buộc bị cáo Nguyễn Văn S trả cho ông Trần Đình H1 số tiền 100.000.000 đồng.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 72C2-501.30 và 01 Giấy đăng ký mô tô biển số 72C-501.30 đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S nên tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 3310 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50s-màu đen là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn S1, cấp10/5/2022 là chứng cứ trong vụ án nên lưu vào hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 xe ô tô biển số 60A-524.18; 01 xe mô tô biển số 54R2-5399; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 3310 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A31 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

- Đối với 01 hũ nhựa màu trắng đục; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ, bên trong nắp có chứa kim loại; 01 khối hình trụ bằng nhựa cao 10cm, đường kính 06cm, bên trong có chứa kim loại; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm không có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 đĩa nhựa màu trắng, đường kính khoảng 15cm (Đều đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (chưa qua sử dụng); 01 viên thuốc sủi hiệu Hapacol; 02 đôi găng tay bằng nhựa, màu vàng (đã qua sử dụng); 02 cục giống nhựa cứng, màu đen, rỗng ruột, dạng bầu dục, dài khoảng 02cm; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm (đã bị vỡ); 01 nhiệt kế thủy ngân y tế (đã bị vỡ); 01 ống hình trụ bằng nhựa màu xanh, đường kính hình trụ khoảng 06cm, cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen bên ngoài (đều đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với Mai Văn Thân sinh năm 1968, trú tại 324/1/10, đường B, tổ C, khu phố A, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là người giới thiệu cho ông H1 gặp H để bàn việc mua bán thiên thạch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác minh tại nơi cư trú thì không rõ T hiện nay đang ở đâu, làm gì nên chưa đủ cơ sở để kết luận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

[9] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm a, g,h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.

  2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.

  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn SNguyễn Văn H 45 ngày để bảo đảm cho việc thi hành án.
  4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 3310 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50s-màu đen. Tịch thu tiêu hủy 01 hũ nhựa màu trắng đục; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ; 01 nắp nhựa màu xanh trên nắp có đục nhiều lỗ nhỏ, bên trong nắp có chứa kim loại; 01 khối hình trụ bằng nhựa cao 10cm, đường kính 06cm, bên trong có chứa kim loại; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm không có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm, dày 05mm có dấu hiệu bị rạn nứt; 01 đĩa nhựa màu trắng, đường kính khoảng 15cm (Đều đã qua sử dụng); 01 cuộn băng keo đen (chưa qua sử dụng); 01 viên thuốc sủi hiệu Hapacol; 02 đôi găng tay bằng nhựa, màu vàng (đã qua sử dụng); 02 cục giống nhựa cứng, màu đen, rỗng ruột, dạng bầu dục, dài khoảng 02cm; 01 gương tráng thủy kích thước 10x10cm (đã bị vỡ); 01 nhiệt kế thủy ngân y tế (đã bị vỡ); 01 ống hình trụ bằng nhựa màu xanh, đường kính hình trụ khoảng 06cm, cao khoảng 10 cm được quấn băng keo đen bên ngoài (đều đã qua sử dụng) hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/8/2024.
    • Buộc bị cáo Nguyễn Văn S trả lại cho ông Trần Đình H1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô biển số 72C2-501.30 và 01 Giấy đăng ký mô tô biển số 72C-501.30 đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để bảo đảm thi hành án.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn SNguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Để thực hiện hành vi lừa đảo, S đặt trên mạng xã hội làm giả 01 căn cước công dân mang tên “Nguyễn Văn S” còn H sử dụng các tên giả là “S”, “Hoàng Văn V”, “Nguyên V để che dấu lai lịch của bản thân trong quá trình trao đổi thương lượng với ông H rồi cùng nhau thử nghiệm giả tạo các tính năng đặc biệt của đá làm ông H tin tưởng đặt cọc 300.000.000 đồng để giao dịch mua đá. Sau khi chiếm đoạt số tiền này S và H đã chia nhau mỗi người 150.000.000 đồng. Đến ngày 02/12/2023, S tiếp tục liên lạc và yêu cầu ông H chuyển 150.000.000 đồng cho Sáu theo số tài khoản 030054243797 tên “Nguyễn Văn S” tại ngân hàng Sacombank để tiếp tục thực hiện việc mua bán đá “thiên thạch”. Sau khi nhận được tiền ông H chuyển thì S chặn liên lạc. Ông H đã nhiều lần liên lạc với S và H nhưng không được nên làm đơn tố giác đến cơ quan Công an.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger